Hiển thị các bài đăng có nhãn trại cải tạo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn trại cải tạo. Hiển thị tất cả bài đăng

14 tháng 12, 2017

Như bóng quê xa (Like The Shadow of a Distant Village) - Trần Dạ Từ (1987)

Ta lớn lên khi hờn oán đang gào thét
I grew up when malice was shouted loudly
Ta biết nhau khi cuộc chiến đang tràn lan
We came to know each other as the war spread far and wide
Trong dằng dặc bạo tàn
During interminable destruction
Em đã cho anh nụ cười vui trong tóc
You gave me a joyful smile from framed within your hair
Trong đêm đen chết chóc
During black nights of death
Em đã cho anh dòng lệ ấm trên môi
You have offered warm tears on my lips

Người yêu ơi
Oh my love
Nụ cười em như sao mai rạng rỡ
Your smile is like the renowned morning star
Còn theo ta dù đêm sâu buốt giá
Still following me through the deep, freezing night
Khi bên tai ta cái chết thì thầm
When at my ears death whisps
Người yêu ơi
My love
Dòng lệ em trên môi ta vẫn ấm
Your tears are still warm on my lips

Năm tháng rồi nguôi dần những hàm oan
With the passing of months and years, the injustice gradually relents
Nắng mưa rồi lấp dần những trận chiến
Sunlight and rain cover over the battles
Rồi một ngày không xa
Then one day not too far
Những lời oán hận thôi gào thét
Rancorous words will stop being screamed out loud
Và chỉ còn lại nụ cười em
And all that's left is your smile
Mênh mang như bóng quê xa
Vast like the shadow of the distant village
Và chỉ còn lại tình yêu em miên man trong trái tim ta.
And all that's left is your endless love in my heart


viết ở trại Hàm Tân

nguồn: Trần Dạ Từ, Nụ cười trăm năm: Tuyển tập ca khúc (Westminster, CA: Việt Báo Foundation, 2011)

9 tháng 9, 2017

trích Đáy địa ngục - Tạ Tỵ (1985)

Nhạc vàng có nhiều ca khúc hay, nhưng cũng chỉ hát để nghe chơi cho khuây khỏa, nó ấm ướt lê thê làm cho não lòng, đã buồn lại buồn hơn, đã chán lại chán hơn, nó chẳng mang một ý nghĩ nào thiết thực cho đời sống trong tù, cần một khích động, một cổ võ để giữ vừng ý chí đấu tranh, cuộc đấu tranh tuy âm thầm nhưng cần phải có như các ca khúc của Vũ Hồng, thuộc Đội 20 sáng tác, mang nội dung trầm hùng, tạo nên xúc cảm mạnh, mỗi lần cất giọng.

Này em, anh không quên đâu những ngày tù tội
Này em, anh không quên đâu những ngày tăm tối
Anh chết hôm nay, cho ngày mai em ngửng mặt
Anh chết hôm nay, ngày mai Tổ quốc vinh quang.

Mỗi lần hát lên, tự nhiên máu trong người như xông xang, có cảm tưởng như mình sống lại cái thuở nào hào hùng, bất khuất.

nguồn: Tạ Tỵ, Đáy địa ngục (San Jose, CA: Thằng Mõ, 1985), tr. 637.

30 tháng 10, 2016

Ngã trên núi Việt - Hồng Yên Bái Khi Đi Lấy Nứa (Falling on Việt Hồng Mountain, Yên Bái while getting bamboo) - Thanh Tâm Tuyền (1978)

Tuột dốc té nhào trên hẻm núi
Slipped on the slope, tumbling down the gulch
Chết điếng toàn thân trong giây lâu
Half dead my whole body those long seconds
Mưa rơi nhẹ hạt, mưa phơi phới
Rain fell in drops, rain fell softly
Chiều đang tàn hiu quạnh rừng sâu
Afternoon faded in the desolate forest deep

Ngửa duỗi chân tay gối trên nứa
Stretched out, arms and legs upon the bamboo
Ngó trời nhá nhem nghe mưa mau
Regarding the sky turn to dusk, hearing rain swiftly fall
Tưởng chừng thi thể đang thối rữa
I imagined a corpse decomposing
Hồn viễn vông chẳng chút oán sầu
A quixotic soul without the least distress

Mưa tung tấm lưới trắng dầy khít
Rain hurled white coils tight and thick
Làng xóm dưới núi ở phương nào?
What direction is the hamlet below the mountain?
Gió rét tái tê bó liệm chặt.
Freezing winds are bound tightly in a shroud
Thiếp lịm hồn quên bẵng sước đau
I lose consciousness completely forget the irritations and pain

Dầm mình trong hạnh ngộ ẩn mật 
Steeping myself in happy circumstances of concealment
Hoen nhòa mắt hứng giọt thiên thâu
Tarnishment effaced, my eyes catch drops of eternity
Dò bước lối mờ nhắm ánh đuốc
Tracking footsteps on the dim path squinting for torchlight
Tiếng người lùng kiếm vang dưới sâu 
The sound of a search party echoed down below

Lào Cai - 1977-8

Tác giả ghi : Hai câu cuối lần viết đầu tiên nhắc nhớ:

Dò dẫm xuống núi đêm bưng bít 
Groping my way down the mountain in enshrouding night
Sông xa đường hiểm quê làng đâu?
The river's far, road dangerous, where is the village?

25 tháng 10, 2016

Chàng về (He Returns) - Vũ Hoàng Chương (1975-6?)

Chàng về trong mộng đêm đêm
He returns nightly in dreams
Trẻ như măng, thịt da mềm như tơ.
Young like a bamboo shoot, skin soft as silk
Xa nhau nàng vẫn mong chờ,
Far apart she still awaits him
Vẫn ôm trong mộng giấc mơ liền cành.
Still embracing in her dreams, amorous fantasies.
Biết đâu chàng đã trở thành
Who knew he became
Xương tàn một nắm vô danh bên trời.
A pile of rotting bones, anonymous exposed .
Bờ sông, bãi cát bồi hồi
River bed, sand dunes troubled
Ðã khô rồi, đã trắng rồi, biết đâu!
They're dried out, they're white, who knew!
Chữ đồng tạc lấy cho sâu,
Bronze lettering, emboss it deeply
Ai hay lẻ một nét sầu đến xương.
Who knows the desolate sadness of the bones.
Là Nam Bắc, là âm dương?
The North or South, Yin or Yang?
Lệ hay máu rỏ con đường nào đây?
Tears or blood dripping on some road?


nguồn: Hoàng Hải Thủy, "Giữa lồng ngục tối," Hoàng Hải Thủy a.k.a Công Tử Hà Đông 7 tháng 6 2013 [blog]

Theo Hoàng Hải Thủy, Vũ Hoàng Chương soạn bài thơ này "về những cặp vợ chồng bị ngục tù chia rẽ." Tôi đọc cứ tưởng là bài thơ này mô tả bất cứ phụ nữ nào nhớ mong bất cứ chàng trai là nạn nhân của một cuộc nội chiến.  Năm 1975 cuộc nội chiến ấy chưa kết thức.  Nam Bắc là âm dương nghĩa là phải có cả hai mới giải hòa, mới trọn vẹn.  Lệ và máu đều tượng trưng cho sự thất bại của hai bên thắng hay thua. Chiến tranh luôn luôn là thất bại.

Ở đầu thơ Vũ Hoàng Chương miêu tả sự gần gũi giữa cặp tình nhân làm cho bài thơ này thêm xót xa.  Một mối tình tha thiết và đầy ý nghĩa bị xé.

27 tháng 7, 2016

Tù khúc du ca (Prisoner's Troubador Song) - Xuân Điềm (1979)

viết theo ngẫu hứng của họa sĩ Lê Chính

Người ơi ! hãy nhớ đến tôi!
Dear! remember me!
Hãy nghĩ đến tôi nơi này,
Think of me in this place.
Mang kiếp sống đày, phiêu lãng tháng ngày cuộc đời tôi!
Bringing a banished existence, my days and months of drifting
Người ơi! 
Dear!
Còn nhớ đến tôi? 
Do you still remember me!
Còn nhắc đến tôi trong đời,
Do you recall in me in your life,
Hay đã hết rồi?
Or is it over?
Hay đã xóa mờ cuộc tình xưa?
Or have you erased a love of long ago?

ĐK:
Dáng em ngày ấy như tờ giấy trắng mỏng manh
Your mien those days was like a thin, white sheet of paper
Lá rơi từng cánh đã đưa tôi về bến mơ
Leaves falling one by one send me back to the dock of dreams
Nhớ khung trời cũ tôi ngồi đếm tháng ngày qua
Remembering heaven's vault of old I sit counting the passing days and months
Giấc mơ còn đó, nhưng trong tôi là nỗi buồn!
The dream still remains, yet for me inside it's sadness

Buồn ơi! 
Sadness
Đừng đến với tôi, đừng đến với tôi nơi này
Don't come my way, don't come with me to this place
Giam hãm tháng ngày, xuân đã héo gầy cuộc đời tôi
Locked up days and months, spring has withered from my life
Tìm quên bằng những bóng mây, để gió cuốn bay phiêu bồng
Looking for forgetting in cloud's shadows, letting the wind blow, rolling adrift
Yêu ánh nắng hồng trên những cánh đồng của làng quê
Loving the rosy sunshine upon the village countryside
Tìm đâu một chút vấn vương, vào giữa giấc mơ ru hồn
Finding a bit of affection, entering midst dreams that lull my soul
Trên những phím đàn, ta hát những lời của tình yêu
Upon the guitar's frets, I sing words of love
Rồi mai tìm đến với nhau, tình đã thâm sâu như giòng sông
Then tomorrow, finding each other, love has grown deep like a river
Nhớ đến nguồn ta hát những lời của ngày đầu yêu nhau.
Remembering the source I sing words of the first day we loved each other.



Tác giả kể:
Tù khúc Du Ca Tù được sáng tác tháng 6 năm 1979 tại trại tù Đồng Ban, Tây Ninh, sau những lần tham gia văn nghệ có canh gác ở các trại tù trong vùng. Lúc này, các tù nhân đang phá rừng để lập trại ở gần nhau, nhưng không có hàng rào bao bọc chung quanh mà cán bộ coi tù thường nói rằng "các anh đang ở trong hàng rào lương tâm, mọi người nên cảnh giác và tuân giữ luật trại mà thôi . . . "
Cảm thấy mình như người du ca đang đi hát rong cho bạn tù nghe tâm trạng mình. Người tù hát trên ruộng ngô, trên cánh đồng, hát trên dòng sông để tiếng hát vọng về nguồn, nói cho mọi người nghe về kiếp sống đày phiêu lãng tháng ngày của những người đang mất tự do, đang hát về tình yêu quê hương. (nguồn: trang web T. Vấn & Bạn hữu)
Như bài "Còn yêu em mãi" của Nguyễn Trung Cang, bài ca "Tù khúc du ca" là một bài ca nhớ nhung mà có rất ít vết đời tù trong lời ca.  Nếu đổi tên bài ca thành "Buồn ơi, đừng đến với tôi" và thay thế hai chữ "giam hãm" với "nhung nhớ" thì đây chỉ là một bài tình ca buồn với giai điệu đẹp. 

Tại sao một người bị giam được phiêu lãng.  Theo một từ điển thì phiêu lãng có nghĩa "trôi nổi đó đây" (với tý dụ - gót chân phiêu lãng, giang hồ - xem Lê Văn Đức, Tự điển Việt Nam (Saigon: Khai Trí, 1970)).  Theo một từ điển khác phiêu lãng có nghĩa "sống nay đây mai đó một cách tự do, phóng túng" (xem Đại từ điển Tiếng Việt (Nhà xuất bản Văn hóa-Thông tin, 1998)).  Có lẽ với bài ca "Tù khúc du ca" từ phiêu lãng có nghĩa như lãng phí - trôi nổi, không được níu chặt vào một lối sống có sản xuất.

12 tháng 6, 2016

Tôi đã cố bám lấy đất nước tôi (I've Tried To Cling To My Land) - Hồng Ngọc [tức là Nguyễn Đình Toàn] (ca. 1979?)

Tôi đã cố bám lấy đất nước tôi
I've tried to cling to my land
Bằng sức người vô hạn
With the strength of someone limitless
Bằng sức người đầu đội trăm tấn bom
With the strength of someone's head bearing a 100 pound bomb
Tim mang nghìn dấu đạn
My heart bears thousands of bullet holes

Tôi đã đổ mồ hôi đổ máu tươi
I pour out sweat of fresh blood
Để mong ở lại đây
To hope to stay here
Dù thế nào cũng ở lại đây
In order to somehow stay here

Nhưng đất đã đỏ vì bị nung bằng những lời dối trá
But the earth has reddened because it's been baked with words of deception
Người bám vào lửa đã đốt cháy tay
People cling to flames that have burned their hands
Lửa hờn căm
Flames of hatred
Lửa hiểm thâm
Flames of evil
Lửa khốn cùng cay đắng
Flames wretched and bitter
Người lừa nhau trời đất còn bưng mặt thảm thương
People deceive one another, heaven and earth with sorrowful visage are heart-rending
Ba mươi năm cuộc tương tàn chưa đủ
Thirty years of mutual destruction weren't enough
Người giết người không kịp mở mắt trông
People killing each other with no time to open their eyes to see
Ba mươi năm mạng người như rác cỏ
Thirty years, people's lives like discarded weeds
Dây hoà bình còn thắt cổ người tin
The thread of peace strangles the necks of believers

Khăn tang nào che ngang đầu những kiếp người một đời giông bão
What mourning veil covers the heads of the fate of people, lives in the storm
Trông binh lửa
Look at warfare
Giữa oán thù
Midst enmity
Hằng cầu mong đến khi bình an
Every wish comes with peace
Ai đâu ngờ sau tiếng súng
Who would suspect that after the sound of guns
Đời lại thêm một thời nát tan
Life would have another time of destruction
Non sông buồn
Sad mountains and rivers
Đã điêu tàn
Have been ruined
Thêm máu lệ chứa chan một lần
For blood and tears overflowing for a time

Bao thây người như cây rừng khắp chốn giờ còn hằn in bóng
How many corpses like forest trees everywhere now leave tracks of their image
Đêm oan hồn
Nights of those who died unjustly
Đêm điên cuồng
Nights of madness
Còn chảy tuôn máu chưa hề quên
Still flow blood that will never be forgotten
Nửa nước này đã cố giết một nửa kia để lập chiến công
Half this country tried to kill the other half to establish a feat of arms
Ai đau lòng
Who is pained
Ai vô tình
Who's indifferent
Ơi sách sử dấu xưa anh hùng
Oh history books with the heroism of long ago

Tôi đã cố bám lấy đất nước
I've tried to cling to my land
Tôi bằng sức người đã kiệt
I with the strength of one who is spent
Bằng sức người đã tả tơi ước mơ
With the strength of one with tattered dreams
Tay chân dường rủ liệt
Hands and legs like they're numb
Tôi cố đợi ngày Việt Nam tái sinh
I wait for the day Vietnam is reborn
Trong sông bể yêu thương
In beloved rivers and oceans
Cho dấu lòng đã bạc lòng mong
So the heart's scar has faded all hope


Bài hát này xuất hiện trên băng của Khánh Ly tên là Tắm mát ngọn sông đào (Westminster: Thanh Lan, 1982). Trên bia băng có lời:

Khánh Ly - Tắm Mát Ngọn Sông Đào.  Những bài hát được viết tư quê hương khổ đau, bí mật gửi ra nước ngoài, của các tác giả lừng danh Việt Nam làm chấn động dư luận 1981. 
Vì sự an nguy, những tác giả trên đã tạm chọn những bút hiệu khác, thay vì bút hiệu quen biết với quần chúng của mình.

Đây là một tác phẩm sáng tác ở nhà tù Việt Nam được gửi sang nước Mỹ.

Bài ca này mô tả tình trạng Việt Nam thời chiến và thời hậu chiến - "Ai đâu ngờ sau tiếng súng / Đời lại thêm một thời nát tan."  Có rất nhiều người miền Nam chỉ mong được một đất nước hòa bình - "Hằng cầu mong đến khi bình an."

Dù "cố bám lấy đất nước" rất nhiều người Việt quyết định vượt biên tìm một lối sống mới.  Ở nước ngoài họ cứ "cố đợi ngày Việt Nam tái sinh."
 

14 tháng 5, 2016

Đôi giầy dũng sĩ - Nguyễn Văn Hồng (1977)

Này em, ta không quên đâu những ngày tù đầy.
Dear, we'll never forget the days of imprisonment.
Này em, ta không quên đâu những ngày tăm tối.
Dear, we'll never forget the darks days.
Này em, ta không quên đâu mối thù từng ngày.
Dear, we'll never forget our hatred each day.
Này em, ta không quên đâu mối thù muôn đời.
Dear, we'll never forget our eternal hatred.
Và dù không là gì cả, cũng xin làm đôi giầy dũng sĩ,  trở về đạp nát tan kẻ thù.
And though it's not much, we ask to make a pair of shoes for brave spirits, to go back and smash the enemy.

Này em, cha ông em chết trong ngục tù.
Dear, your fathers, grandfathers, brothers die in jail
Này em, thân nhân em đau buồn tang chế.
Dear, your loved ones grieve painfully in mourning
Này em, tương lai em vẫn còn mịt mù.
Dear, your future is still hazy.
Này em, quê hương ta vẫn còn nô lệ.
Dear, our homeland is still enslaved.
Và dù không là gì cả, cũng xin làm đôi giầy dũng sĩ, trở về đạp nát tan xích xiềng.
And though it's not much, I ask to make a pair of shoes for brave spirits, to go back and smash the shackles.

Cho tôi xin một lần gục ngã, cho em tôi suốt đời ngẩng mặt.
Grant me this once to fall, so you all your life you can raise your head
Cho tôi xin một lần được chết, cho quê hương ngàn đời vinh quang.
Grant me this once to die, so the homeland can forever be glorious
Cho tôi xin một đời nhọc nhằn, cho em tôi một đời hạnh phúc.
Grant me this weary life, so you can have a happy life.
Cho tôi xin một đời chiến chinh, cho quê hương muôn đời thanh bình.
Grant me a life of fighting, so the homeland forever has a peaceful life.
Nhạc vàng có nhiều ca khúc hay, nhưng cũng chỉ hát để nghe chơi cho khuây khỏa, nó ấm ướt lê thê làm cho não lòng, đã buồn lại buồn hơn, đã chán lại chán hơn, nó chẳng mang một ý nghĩ nào thiết thực cho đời sống trong tù, cần một khích động, một cổ võ để giữ vừng ý chí đấu tranh, cuộc đấu tranh tuy âm thầm nhưng cần phải có như các ca khúc của Vũ Hồng, thuộc Đội 20 sáng tác, mang nội dung trầm hùng, tạo nên xúc cảm mạnh, mỗi lần cất giọng.
Này em, anh không quên đâu những ngày tù tộiNày em, anh không quên đâu những ngày tăm tốiAnh chết hôm nay, cho ngày mai em ngửng mặtAnh chết hôm nay, ngày mai Tổ quốc vinh quang.
Mỗi lần hát lên, tự nhiên máu trong người như xông xang, có cảm tưởng như mình sống lại cái thuở nào bào hùng, bất khuất. (nguồn: Tạ Tỵ, Đáy địa ngục (San Jose, CA: Thằng Mõ, 1985), tr. 637).
Không có nhiều thông tin về Nguyễn Văn Hồng / Vũ Hồng.  Hình như ông không tham gia đời sống nhạc chuyên nghiệp trước năm 1975.  Là trung úy pháo bình trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa, vậy ông từng bị cải tạo.  Ông cũng thuộc vào Đội 20 là một nhóm huyền thoại gồm những thanh niên Phục Quốc chống lại chế độ.  Năm 1976 ông bị đưa ra miền Bắc trong tầu Sông Hương.  Trong hồi ký tù Đáy địa cầu, họa sĩ Tạ Tỵ viết rất chi tiết về chuyến đi thảm hại này.  Đây là lời miêu tả ngắn gọn trong chuyện ngắn của tác giả Nguyễn Ái Lữ:
Qua đầu năm 1976, khoảng 2000 tù nhân trại Suối Máu được chở ra Bắc bằng tầu Sông Hương. Phải gọi đây là Chuyến tầu kinh hoàng vì chứa quá nhiều người, mất vệ sinh, cướp cả mạng sống của tù nhân. … Chuyến tầu này cũng là một địa ngục trần gian, gây khinh hãi cho tù nhân trong suốt hành trình bay ngày ba đêm trên biển (nguồn: Nguyễn Ái Lữ, "Đất nổi giận 21," Vietnam Daily [online] June 11, 2011)
Sau đó Nguyễn Văn Hồng vào trại Nam Hà (ở tỉnh Hà Nam Ninh).  Ở đây Đội 20 chống lại cán bộ trại:
Vào buổi sáng ngày 16/9/1977, toàn thể tù "cải tạo" phân trại “A” Nam Hà đồng thanh hô vang nhiều lần “đả đảo cộng sản” trước giờ lao động tại sân trại, để chống lại hành động đối xử tàn nhẫn của "cán bộ" trại đối với anh em tù cải tạo bị bệnh nặng. (nguồn: Trần Nhật Kim, "Một thời để nhớ," Tiếng Quê Hương [blog] 3 tháng 11 2015)
Trong hoàn cảnh trại cải tạo thì các thành viên của Đội 20 được coi như là những vị anh hùng.  Chống lại chính quyền của trại thì tất nhiên họ bị hành hạ nặng nề.  Theo một hồi ký thì 6 người trong nhóm ấy bị chết ở trại - trong những người cũng có Nguyễn Văn Hồng (xem Mai Văn Tấn, "Những biến động Ở Trại Nam Hà (1980,1981)" Một Góc Trời [website]).  Nhưng đối với những người bị cải tạo:
Tên đội 20 như đã đi vào lịch sử và mang theo nhiều kỷ niệm đau thương lẫn tự hào với hình ảnh các người tù chính trị đã hiên ngang và công khai, tay không đứng lên chống lại cái chế độ bạo quyền của hệ thống trại giam Cộng Sản (Phạm Gia Đại, Hồi ký: Những người tù cuối cùng ([CA]: Phạm Gia Đại, 2011), tr. 442). 
Nhiều người bị cải tạo cố tìm cách để tôn tại và giữ nhân phẩm của mình.  Đối phó với mỗi gian khổ là đủ.  Nhưng mình tồn tại có phải đủ để "thắng."  Thắng ai, thắng cho ai?  Thắng chính mình, thắng cho chính mình?  Hay thắng kẻ thù, thắng cho quê hương, đất nước?

Phản kháng ở Việt Nam sau năm 1975 không được đến kết quả mấy.  Kẻ phản kháng bị giam, bị xử tử hay chết dần ở tù / trại.  Tính mạng của mình khi bị giam, bị bỏ mạng có nghĩa gì?  "Cho tôi xin một lần được chết, cho quê hương ngàn đời vinh quang."  Sự vinh quang này nằm trong tay thế hệ sau.  Cho người "trở về đạp nát tan xích xiềng."  Có thông tin cho rằng "em" của bài ca này là bạn gái của tác giả (xem Việt Chính Nhân, "Mở lại hồ sơ 'Vụ Nguyễn Chí Thiện'," Chính Nghĩa (website, không ngày tháng).  Khi mới dịch bài ca "Đôi giày dũng sĩ" tôi cứ tưởng nhầm là em ở đây là như người em trai, em kết nghĩa, là đồng đội.  Như vậy bản phản kháng ca này cũng biểu lộ tình cảm của hai người tình nhân.  Anh chiến sĩ chết thì em phải tự hào - "Cho tôi xin một lần gục ngã, cho em tôi suốt đời ngẩng mặt."

nguồn: Trần Nhật Kim, "Một thời để nhớ."

Tôi chưa được tìm âm thanh cho bài ca "Đôi giầy dũng sĩ" trên mạng.  Giai điệu này gồm nhiều hợp âm trưởng với tiết tấu nhạc kèn fanfare.  Bài ca được hát truyền miệng và được biết rộng rãi trong nhiều trại tập trung cải tạo.  Tạ Tỵ khên bài "Đôi giầy dũng sĩ" là "mang nội dung trầm hùng, tạo nên xúc cảm mạnh, mỗi lần cất giọng."  Không có âm thanh trên mạng là một điều hơi lạ.

12 tháng 5, 2016

Hẹn thề (A Vow) - Việt Long (1982-3)

Đứng đây trông núi đá mòn
Standing here looking at worn mountain stone
Trông em héo hắt nhìn con đến thì
Looking at you beaten down, looking at our child arrive
Bên ngòai đời vẫn trôi đi
Outside life still flows onward
Riêng ta đứng mãi giữa miền trầm luân
It's just I who always is standing in the middle of a realm of grief
Nợ duyên bao kiếp hồng trần
Fate's debt from many wordly incarnations
Cho em mòn mỏi cho thân lưu đầy
For you all tired out, for a body in exile
Tang điền kia bỗng đổi thay
The mulberry plantation over there suddenly changes
Nhân thân tựa lá gió bay mịt mù
A human life is like leaves flying in a dark, faraway wind
Từ anh sương tuyết phiêu du
From me, fog and snow drift
Nhớ thương khô dạ hận thù cháy tim
Longing dries your gut, hatred burns your heart

Thôi em giữ lấy tơ duyên
Alright, hold on to the marriage bonds, my love
Gươm đàn mai sẽ ra miền ải quan
Sword and instrument, tomorrow will come to the mountain pass
Hãy trông kìa em, ngập tràn xương máu
Look out of there, dear, flooded with bones and blood
Hãy trông kìa con, gian dối bạo tàn
Look over there child, deception and cruelty
Mai đây rửa sạch hờn oan
Tomorrow wash away long-standing grudges
Trăm năm tơ tóc chứa chan ân tình.
In one hundred years, a strand of hair can overflow with goodwill


Thế giới ở ngoại vào trại là nhờ thân nhân đến thăm nuôi.  Thân nhân, tức là vợ mình, cũng vất vả với đời sống ở ngoại - cũng bị "mòn mỏi cho thân lưu đầy."  Tác giả tự tiếc đời mình là "đứng mãi giữa miền trầm luân."  Tác giả viết:
Bài “Hẹn thề” được sáng tác tại trại tù Z30A – Xuân Lộc khoảng năm 1982-83, lúc phong trào sáng tác và trình diễn nhạc tù ca lên cao nhất tại nơi đó. Tôi viết bài này như một lời thề hứa đoàn viên với vợ hiền, con ngoan để rồi lại lên đường chiến đấu giành lại quê hương, rồi sẽ đoàn tụ vĩnh viễn trong một đất nước tự do, theo mộng tưởng của mình vào lúc đó. (nguồn: "Việt Long: Hẹn thề," T.Vấn và bạn hữu 7 tháng 7 2012)
"Hẹn thề" là giữ hận thù đợi thế hệ của con "rửa sạch hờn oan."  Rửa thì cũng phải làm "ngập tràn xương máu."  Như vậy mới có ân tình? 
tác giả trình bày

8 tháng 5, 2016

Đám ma văn hóa (A Funeral For Culture) - Hà Thúc Sinh (1979)

Một ngày đông mưa bay đoàn tù đi khiêng cây ngậm lời không ta thán như những kiếp trâu đọa đầy
On a winter day of driving rain the prisoners lug some wood, holding their tongues, uncomplaining like the lot of an abused buffalo

Đường rừng đi quanh co hồn Phạm Công bơ vơ một chàng trai trong mưa bỗng nhớ Cúc Hoa ngày xưa
The sinuous forest road, the soul of orphaned Phạm Công, a lad in the rain suddenly remembers Cúc Hoa of long ago

Ngục tù không tha em ngày oằn vai dân công giòng đời như sông lớn cố lấp trên em mặn nồng
Prison doesn't release her, days of bent shoulders for conscripted laborers, life's flow is a great river filling over you full of warmth

Vợ chồng năm năm xa gặp lại như trong mơ ngậm ngùi cho Thiên Cơ nước mắt che nơi bụi bờ
A husband and wife, five years apart, re-meet like a sorrowful dream for Heaven's Will, tears cover by the hedge

Phút ấy hồn chim Quyên ý thức về cung tên bỗng chốc nàng nghe như có đóa huyết hoa nở ra
That minute the Cuckoo's soul is aware of the bow and arrow, suddenly she felt like a blood flower blooming

Chàng gục bên bờ suối đạn xuyên ngọt tới như xác bông hoa rụng rơi
He sunk down at the streamside, the bullet pierced sharply like flower petals falling

Rồi người ta đem chôn đề mộ đôi uyên ương
Then the people brought them to buried, a grave for the lovebirds
"Bọn người vô văn hoá 
"An uncultured rabble
Dư chứng nô vong thực dân"
The result of being enslaved by colonizers"

Người Việt Nam hôm nay cần phải sinh trong tay thì thừa dư nơi đây những trái tim trong ngực gầy
The Vietnamese people today must be born in the hands then there are more than enough hearts in skinny chests


Bài ca này được viết ở trại Hàm Tân.  Tôi chưa hiểu ý của bài ca này.  Có phải đám ma văn hóa là hậu quả của người Việt Nam bị "nô vong thực dân" bởi Trung Quốc, Pháp, Liên Xô, và Hoa Kỳ?

Trong câu chuyện Phạm Công Cúc Hoa cả hai vợ chồng đều chết.  Chuyện chim Quyên người vợ mãi đi tìm chồng như vậy hót bài hát buồn.  Hình như hoàn cảnh bài "Đám ma văn hóa" là vợ đến thăm chồng ở trại tập trung cải tạo (Vợ chồng năm năm xa gặp lại như trong mơ ngậm ngùi).  Người chồng không được thả, nhưng bởi vậy người vợ cũng không được thả nữa - "Ngục tù không tha em ngày oằn vai dân công."  Việc "che nơi bụi bờ" có phải có nghĩa là người vợ chồng không được chỗ riêng tư để gặp nhau, để tâm sư với nhau.

"Người Việt Nam hôm nay cần phải sinh trong tay" thì tôi chịu.  Trong tay ai vậy?  Nếu ai bạn nào được phân tích lời của bài ca xin chia sẻ.

5 tháng 5, 2016

Đừng chết nhé, ta ơi! (Don't Die, I Tell Myself) - Hà Thúc Sinh (1980)

Đừng chết nhé thơ ơi khi mình cần thơ lắm
Don't die poems, oh I need poems so much
Dù thơ đã lao lung tả tơi
Though poems have imprisoned and left me ragged
Hãy như dao nhọn để mình còn vũ khí chơi quân thù
Be like a sharp knife so I'm still a weapon at play with the enemy army
Mớ khoai hư này cầm hơi với nhau để nhớ
This bundle of rotten potatos, held back to remember

Đừng chết nhé chơi ơi khi mình cần chim lắm
Don't die, pleasure when I really need a bird
Dù chim đã lao lung tả tơi
Though the bird is truly imprisoned and ragged
Hỡi chim trong lồng
Oh bird in a cage
Vì mình làm ơn hót cho bi hùng
For me you done the favor of singing for sad majesty
Trái tim xin tặng mà nuôi lấy thân giam cầm
My heart, please give and take care of a body in detention

Đi trên dây đời nuôi nụ cười vẫn tươi
Going on life's string, fostering a smile that's still fresh
Sống chết do trời nuôi thù ta hát thôi
Living, dying depends on heavens, fostering our hatred and we sing
Hát cho tan mối sầu đời như muông thú
Sing to disperse the sadness of life like an animal

Đừng chết nhé ta ơi
Don't die, I tell myself
Gánh nặng cười đi tới dù gông xích lao lung tả tơi
Burden heavy, just smile going forward, though the chains make you imprisoned and ragged
Hỡi tim trong ngực
Oh, heart in my chest
Vì ta làm ơn giữ cho máu hồng giữ cho căm hờn một mai phá tan cơn buồn
For I please ask to hold on to red blood, hold on to hatred, one day break away the sadness

nguồn: Sáng tạo: Thư viện Văn học Nghệ thuật 22 tháng 6 2015


Người ở trại tập trung cải tạo không biết bao giờ sẽ được thả.  Như vậy phải tự nhủ mình tìm một lý do để tồn tại.  Một tác giả văn chương thì cần đến chữ, cần đến thơ.  Cụm chữ thành thơ phải sắc như một vũ khí để trả thù.  Tác giả là như chim trong lồng cứ phải hót.  Nó "hót cho bi hùng" - người tù bi hùng hát nhạc vừa buồn, vừa uy nghi.

Trời nuôi hận thù, hát nhạc buồn uy nghi là "hát cho tan mối sầu đời như muông thú."  Hát để giữ tinh thần.  Không chết nghĩa là "giữa cho máu hồng giữ cho căm hờn."  Kết quả của giáo dục cải tạo là căm hờn và "cơn buồn."

3 tháng 5, 2016

Nước mắt cho Sài Gòn (Tears for Saigon) - Nguyễn Đình Toàn (1978?)

Sài Gòn ơi
Oh Saigon
Ta mất người như người đã mất tên
I lost you like you lost your name
Như dòng sông nước quẩn quanh buồn
Like a river whose water sadly stirs around
Như người đi cách mặt xa lòng
Like one who goes far from a face, a heart
Ta hỏi thầm em có nhớ không
I softly ask if you remember

Sài Gòn ơi
Saigon
Ðến những ngày ôi hè phố xôn xao
Came days that the noisy streets and sidewalks
Trong niềm vui tiếng hỏi câu chào
In the happiness of greetings
Sáng đời tươi thắm vạn sắc màu
Brightening a multi-colored, cheerful life
Còn gì đâu
There's nothing left

Ai đã xa nhớ hàng me già
Anyone afar would remember the old tamarind trees
Thu công viên hoa vàng tượng đá
Autumns in the park, golden flowers, stone statues

Sài Gòn ơi
Oh Saigon
Ðâu những ngày mưa mùa khoác áo đi
Where have those days in the rainy season taking a coat to go
Tay cầm tay nói nhỏ những gì
Hand in hand we speak quietly of things
Những quầy hoa quán nhạc đêm về
Flowerstands, cabarets at night coming home
Còn rộn ràng giọng hát Khánh Ly
Still echoing with Khánh Ly's voice

Sài Gòn ơi
Oh Saigon
Thôi hết rồi những ngày hát nhớ nhau
They're all gone, those days when we sang of missing each other
Nhớ Phạm Duy với tình ca sầu
I miss Phạm Duy with his melancholy love songs
Mắt lệ rơi khóc thuở ban đầu
Eyes with teardrops falling the first time
Còn gì đâu
There's nothing left

Sài Gòn ơi
Oh Saigon
Ta mất người như người đã mất tên
I lost you like you lost your name
Mất từng con phố đổi tên đường
Lost the roadways, changed the streets names
Khi hẹn nhau ta lạc lối tìm
Meeting at the appointed place, we lose our way finding it
Ôi tình buồn như đã sống thêm
Oh sad love like it's lived longer

Sài Gòn ơi!
Oh Saigon
Ta mất người như người đã mất tên
I lost you like you lost your name
Mất trường xưa mất tuổi thiên thần
Lost my old school, lost an angelic age
Hy vọng xa với mộng ước gần
Hopes far away with withes close
Đã lìa tan
Have come to an end

Trăng ơi trăng có còn chăng là
Moon, oh moon, are you still there
Sao ơi sao sao mờ lệ nhớ
Stars, oh stars, they're blurred by tears of remembering

Sài Gòn ơi!
Oh Saigon
Ta mất người như người đã mất tên
I've lost you like you lost your name
Như hàng cây lá đỏ trông tìm
Like rows of trees with red leaves that seek
Mặt trời trong cánh nhỏ dịu hiền
The sun through small gentle leaves
Ðủ ngậm sầu ngang môi lắng im.
Enough to hold sadness across sad lips.

Sài Gòn ơi!
Oh Saigon
Ta mất người như người đã mất tên
I've lost you like you lost your name
Như mộ bia đủ lạnh hương nguyền
Like a tombstone cold enough, incense fragrance and an oath
Như trời sâu đã bỏ đất sầu
Like the deep sky had abandoned the sad earth
Còn gì đâu...
There's nothing left

nguồn: Nguyễn Đình Toàn, Quê hương thu nhỏ: 23 ca khúc (Westminster: Văn Khoa xuất bản, 2000).


Người ta hay nhắc đến các trại cải tạo, các người bị tập trung ở các trại.  Nhưng việc cải tạo xảy ra ở khắp cõi Việt Nam Cộng Hòa xưa.  Trong cái quá trình cải tạo miền Nam thì bên thắng cuộc đổi tên của thủ đô, đổi tên nhiều đường phố, cấm các ca khúc phổ biến, đóng cửa các "quán nhạc," và rút ra nhiều người biết đến thời tiền cải tạo.

Sài Gòn được coi như tình nhân.  Sài Gòn (tức là Sài Gòn trong ký ức) mất là như mất người tình.  Sài Gòn này rất mật thiệt, rất tươi thắm như một người tình.  Mất người tình là mất phương hướng, mất kỷ niệm đẹp.

Bài ca này (và các ca khúc viết ở các trại giam, nhà tù) không được viết trên giấy với năm dòng kẻ đến khi nó khỏi ra tường tù.  Như vậy các bài ca được truyển khẩu phổ biến.  Trong Nhà tù: Hồi ký, Duyên Anh viết:
Thời kỳ này, Nguyễn Đình Toàn đã từ đề lao Gia Định qua Chí Hòa và “trụ trì” khu FG. ... Dương Đức Dũng đã sống chung với Nguyễn Đình Toàn tại 5C-2 đề lao Gia Định và được tác giả Tro than dạy truyền khẩu mấy ca khúc như Saigon, niềm nhớ không tên ... (tr, 488)
Thời gian này là năm 1978.  Khi mới được phổ biên qua giọng hát của Khánh Ly bài ca "Mắt mắt cho Sài Gòn" có tên "Saigon, niềm nhớ không tên."  Bài hát này xuất hiện trên cassette chủ đề "Bông hồng cho người ngã ngựa" xuất bản năm 1980.  Nếu bia cassette ở dưới là bia của năm 1980 thì đây là một hành động rất hại cho ông Toàn vì đề tên Nguyễn Đình Toàn sau tên của hai bài hát.


nguồn: Youtube

Bài ca này cũng xuất hiện trong cassette "Người di tản buồn" năm 1981.

Lời đây hơi khác với lời mà Nguyễn Đình Toàn xuất bản năm 2000 không phải là điều lạ.  Là một bài ca truyển khẩu làm sao mà có văn bản chính xác.  Không biết tác giả vốn nhắc tên giọng hát nữ nghệ sĩ nào, nhưng khi Khánh Ly hát tên người này là Thái Thanh.  Khi xuất bản ca khúc thì tên là Khánh Ly.


Saigon, niềm nhớ không tên (Saigon: A Nameless Longing)

Sài Gòn ơi
Oh Saigon
Tôi mất người như người đã mất tên
I lost you like you lost your name
Như dòng sông nước quẩn quanh buồn
Like a river who water sadly stir around
Như người đi cách mặt xa lòng
Like one who goes far from a face, a heart
Ta nhủ thầm em có nhớ không
I softly urge you, do you remember

Sài Gòn ơi
Saigon
Ðâu những ngày khi hè phố xôn xao
Where are the days when the streets and sidewalks were full of sound
Trong niềm vui tiếng hỏi câu chào
In the happiness of greetings
Sáng đời tươi thắm vạn sắc màu
Brightening a multi-colored, cheerful life
Nay còn gì đâu
Now there's nothing left

Ai đã xa nhớ hàng me già
Anyone afar would remember the old tamarind trees
Thu công viên hoa vàng tượng đá
Autumns in the park, golden flowers, stone statues
Thôi hết rồi mộng ước xa xôi
That's all, distant dreams are gone
Theo dòng đời trôi
Following the flow of life's stream

Sài Gòn ơi
Oh Saigon
Ðâu những ngày mưa mùa khoác áo đi
Where have those days in the rainy season taking a coat to go
Tay cầm tay nói nhỏ câu gì
Hand in hand we speak quietly of something
Đâu quầy hoa quán nhạc đêm về
Where are the flowerstands, cabarets at night coming home
Đâu rộn ràng giọng hát Thái Thanh
Where's the echo of Thái Thanh's voice

Sài Gòn ơi
Oh Saigon
Thôi hết rồi những ngày hát bên nhau
They're all gone, those days when we sang together
Đâu Phạm Duy với tình ca sầu
Where's Phạm Duy with his melancholy love songs
Mắt lệ rơi khóc thuở ban đầu, còn gì đâu
Eyes with teardrops falling the first time, there's nothing left

Sài Gòn ơi!
Oh Saigon
Tôi mất người như người đã mất tên
I lost you like you lost your name
Khi hẹn nhau ta lạc lối tìm
Meeting at the appointed place, we lose our way finding it
Ôi tình buồn như đã sống thêm
Oh sad love like it's lived longer

Sài Gòn ơi!
Oh Saigon
Tôi mất người như người đã mất tôi
I lost you like you lost me
Như trường xưa mất tuổi thiên thần
Like my old school lost an angelic age
Hy vọng xa với mộng ước gần
Hopes far away with withes close
Nay còn gì đâu
Now there's nothing left

Ai ra đi nhớ hoài câu thề
Whoever leaves always remember the vow
Nơi quê hương muôn người chờ ngóng
At home hundreds of thousand are expectant
Ta tiếc thời âu yếm xa xưa
I regret that my distant youth
Bây giờ còn đâu
Now where has it gone?

Sài Gòn ơi!
Oh Saigon
Ta mất người như người đã mất tên
I've lost you like you lost your name
Như hàng cây lá đỏ trông tìm
Like rows of trees with red leaves that seek
Mặt trời soi dáng nhỏ dịu hiền
The sun shines on a gentle visage
Ðang ngậm ngùi trên môi lắng im.
Holding grief upon sad lips.

Sài Gòn ơi!
Oh Saigon
Ta mất người như người đã mất tên
I've lost you like you lost your name
Như mộ bia đủ lạnh hương huyền
Like a tombstone cold enough, incense fragrance dark
Như trời sâu đã bỏ đất sầu, còn gì đâu
Like the deep sky had abandoned the sad earth, there's nothing left

27 tháng 4, 2016

hòa hợp dân tộc

trích Huy Đức. Bên Thắng Cuộc, I. Giải phóng (Saigon: Osinbook, 2012), tr. 66-67.

Ngày 11-6-1975, hạ sỹ quan, binh lính bắt đầu ngày “học tập” đầu tiên. Ngày 12-6-1975, báo Sài Gòn Giải Phóng có bài “Thấm nhuần tinh thần nhân đạo Việt nam”, xã luận: “Cách mạng thắng lợi, giải phóng đồng bào ta, đồng thời cũng giải phóng luôn cả người lính nguỵ. Cuộc đời làm lính đánh thuê cho đế quốc Mỹ đã chấm dứt. Họ khỏi phải chết. Họ thoát khỏi kiếp sống cực nhục trong đội quân chống lại tổ quốc. Đó là hành vi nhân đạo đầu tiên rất căn bản của cách mạng đối với họ. Giờ đây, dù họ có bị bắt giam hay không, họ vẫn là những tù, hàng binh trong tay các lực lượng vũ trang giải phóng… Tuy nhiên, nếu chúng không chống cự thì ta cũng không giết chúng. Chúng cũng là con người Việt Nam. Đế quốc Mỹ và tay sai đã biến chúng từ con người thành ra dã thú. Cách mạng phải cải tạo chúng từ thú trở lại thành người. Phải giam chúng lại để chúng không làm hại nhân dân được nữa. Đồng thời phải cải tạo chúng để chúng cải tà quy chính".

Ngày 15-6-1975, báo Sài Gòn Giải Phóng xã luận tiếp: “Hòa hợp là một chính sách lớn của cách mạng. Muốn hoà hợp dân tộc thì điều cơ bản và đầu tiên là phải làm sao cho mọi thành viên trong cộng đồng dân tộc có một lập trường thống nhất làm cơ sở. Giặc Mỹ và bọn tay sai bán nước dã [sic?] dùng một chính sách chia rẽ tệ hại nhất. Chúng gây thù hằn giữa các thành viên của dân tộc, giữa các tôn giáo, giữa các địa phương. Chúng cố tình chia cắt nước ta… Nguy hiểm hơn cả là chúng đã dùng mọi thủ đoạn để nhồi nhét vào đầu óc của một số người chủ nghĩa chống cộng điên cuồng để làm bình phong che dấu mục đích xâm lược. Bởi vì chúng biết rằng những người cộng sản là những người yêu nước nhứt, là những người chống đế quốc quyết liệt nhứt… (tr. 66)

Làm sao có thể hoà hợp giữa những người yêu nước với những người chống lại tổ quốc, dù dưới bất cứ hình thức nào và nhãn hiệu nào? Súng đã nộp mà tư tưởng chống cách mạng vẫn còn thì hoà hợp làm sao được?… Vì vậy, hoà hợp dân tộc là trước hết, họ phải gột sạch những nọc độc tư tưởng giặc Mỹ đã gieo rắc, từng bước tiếp thu ánh sáng chính nghĩa của dân tộc. Đợt học tập tổ chức cho binh sỹ nguỵ quân, nguỵ quyền hiện nay đã mở ra cho họ một cơ hội tốt để làm việc đó. Qua học tập, họ phải thấy cho rõ âm mưu và tội ác của giặc Mỹ và tay sai, phải nhận ra chính sách khoan hồng đầy nhân nghĩa của cách mạng, phải thấy hết lỗi lầm của mình đối với dân tộc và con đường tất yếu họ phải đi từ đây để làm lại cuộc đời, trở thành người công dân Việt Nam chân chính. Đó là con đường duy nhất đưa họ đi đến hoà hợp với đông đảo các tầng lớp nhân dân”.

Thông báo ngày 20-2-1991 của Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương “Về những luâṇ điệu xuyên tạc của Bùi Tín trên đài BBC” viết: “Việc cải tạo những phần tử đã gây nhiều tội ác hoặc còn mang nặng tư tưởng chống cộng, thù địch quyết liệt với cách mạng hoàn toàn không phải là vi phạm nhân quyền, càng không phải là việc làm trái với chính sách hòa hợp, hòa giải dân tộc mà chính là việc làm cần thiết để bảo vệ cuộc sống hòa bình, yên vui của nhân dân, bảo vệ nhân quyền cho mọi người để tăng cường hòa hợp dân tộc” (tr. 67).


Theo Từ điển Tiếng Việt (Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học Xã hội - Trung tâm Từ điển học, 1994)
"hòa hợp" có nghĩa "Hợp lại thành một khối do có sự hài hòa với nhau."  Hài hòa có nghĩa "Có sự kết hợp cân đối giữa các yếu tố, các thành phần, gây được ấn tượng về cái đẹp, cái hoàn hảo."  Chữ then chốt ở đây là "cân đối."

Đối với "bên thắng cuộc" thì chữ hòa hợp thành vấn đề bởi chữ ấy vốn đã bao gồm cái ý cân đối.  Có một khối chính nghĩa, đứng đắn, trung thành với cách mạng, và có một khối khác hoàn toàn đã từng sống và làm ngược với các lý tưởng ấy.  Lúc hòa hợp chất trong sạch với chất độc làm sao mà cho hai thứ được cân đối?

Con người không bao giờ đơn giản là trong sạch hay độc, trắng hay đen.  Nhưng thứ lô-gích ở trên cho là chiến thắng = trong sạch, hiểu biết và khoan dung.  Tại sao là thế - vì đã thắng.  Nhưng bất cứ cuộc thắng lợi đến vì nhiều yếu tố khác - là do bên thắng cuộc được mạnh, khéo, giỏi, kiên trí và lắm lần dối trá hơn bên thua cuộc.  Kẻ thắng không thể nào trong sạch.  Kẻ thắng chỉ có sức mạnh và chẳng cần đến sự cân đối.

Chữ "khoan hồng" có nghĩa là "đối xử rộng lượng với kẻ có tội."  Vẫn là trắng đen.  Kẻ thua thì "có lỗi lầm với dân tộc" là kẻ có tội.  Rộng lượng ở đây chỉ có nghĩa là bên thắng cuộc làm hành động không nhân đạo, nhưng họ có khả năng đối xử ác liệt hơn (như "giết chúng").  Phải nhấn mạnh là kẻ thắng và kẻ thua trong lời viết của Huy Đức đều là người Việt Nam, là anh chị em chung một nhà.  Sau 1975 sự rộng lượng và hòa hợp không có mấy, như vậy làm một cuộc chiến thắng thành thất bại về nhiều mặt.  Nhưng nếu lính Sài Gòn đã được giải phóng Hà Nội không biết sự hòa hợp và khoan hồng sẽ khác mấy?  Phải bỏ cái khái niệm trắng đen mới thì hưởng sự hòa hợp.  Phải hòa trắng với đen một cách cân đối.

26 tháng 4, 2016

trích The Will of Heaven (Mệnh trời: Chuyện của một người Việt và sự kết thúc của một lối sống) - Nguyễn Ngọc Ngạn (1982)

But Tran Van Loc, a pianist and composer in his mid-thirties, lived among us like a shadow. Quiet and reclusive, he seemed to live in some remote, interior world that I vaguely sensed to be that of the creative spirit. I had talked with Loc but once. His trouble with the communists, I learned, stemmed from the fact that he had frequently played for some of the American military clubs in Saigon, Long Binh, and Bien Hoa. Loc seemed reluctant to talk about himself or his experiences, however, and our conversation had been rather brief. (tr. 130-1)

Nhưng Trần Văn Lộc, một tay dương cầm và nhạc sĩ sáng tác tuổi ba mươi mấy, sống với chúng tôi như một chiếc bóng.  Im lặng và xa lánh, dường như anh ta sống trong nội tâm riêng tư và xa xăm mà tôi ngờ ngợ cảm tưởng là một tâm hồn sáng tạo.  Vấn đề của anh đối với cộng sản theo tôi được nghe thì gốc từ sự kiện anh ta thường chơi nhạc trong một số cậu lạc bộ quân đội Mỹ ở Sài Gòn, Long Bình, và Biên Hòa.  Lộc có vẻ miễn cưỡng tâm sự về mình hay kinh nghiện của mình dù đến đâu và các cuộc chuyện trò giữa chúng tôi rất ngắn. 

nguồn: Nguyen Ngoc Ngan and E. E. Richey, The Will of Heaven: The Story of One Vietnamese and the End of His World [Mệnh trời: Chuyện của một người Việt và sự kết thúc của một đời sống] (Dutton, 1982).


The Will of Heaven được gọi là hồi ký trại cải tạo.  Tôi cũng nghĩ rằng nhiều chuyện trong quyển này phản ánh đời sống trại tập trung cải tạo.  Nhưng Nguyễn Ngọc Ngạn là một nhà văn viết tiểu thuyết.  Trang Wikipedia về ông cho rằng The Will of Heaven là một "tiểu thuyết tiếng Anh."

Tôi chưa nghe đến người nhạc sĩ nào tên là Trần Văn Lộc.  Tôi cũng chưa lần nào nghe đến một nhạc sĩ / nghệ sĩ Việt Nam bị giam, bị cải tạo chỉ vì việc chơi nhạc để phục vụ lính Mỹ.  Vài trang nữa trong hồi ký / tiểu thuyết này, nhạc sĩ Trần Văn Lộc tự tử.  Đã có một số nhạc sĩ Việt Nam chết ở trại cải tạo (Minh Kỳ, Minh Nhựt và Thục Vũ chẳng hạn) nhưng tôi chưa nghe đến nhạc sĩ nào tự tử khi bị giam.

Như vậy không biết Trần Văn Lộc là một nhân vật bịa đặt, hay Trần Văn Lộc là bí danh của một người có thật?  Hay toàn câu chuyện về Trần Văn Lộc là một truyện bịa?  Ranh giới giữa cái sự thật và điều tưởng tượng nằm ở đâu?

25 tháng 4, 2016

Hát từ chín tầng địa ngục (Singing From The Nine Circles of Hell) - Vũ Đức Nghiêm (1981)

1
Từ địa ngục này thăm thẳm chín tầng sâu
From this hell, very far, nine deep circles
Biết bao con người không chịu qùy gối gục đầu
So many people have refused to get on their knees and bow their heads
Từ địa ngục này thương tình sông núi biển dâu
From this hell, compassion of rivers and mountains when land and see change places
Giòng nước mắt rơi lòng quặn đau căm hờn sôi tim ứa máu
A stream of tears fall, heart bent in pain, hatred seethes in a heart overflowing with blood

2
Ngày dằng dặc buồn như dài đến ngàn thu
A sad endless day, like the length of a thousand autumns
Xót thân lưu đầy thêm căm hờn lũ giặc thù
A suffering body in exile with more hatred for the enemy thugs
Từ địa ngục này mong chờ ánh sáng ngày mai
From this hell, awaiting tomorrow's light
Lòng tha thiết tin vào tương lai dù xà lim tăm tối như đêm dài
An eager heart believing in the future though the prison cells dark like a long night

Nghe vang đêm đêm tiếng hát hận sầu mơ ngày Việt Nam hết khổ đau
Every night hear the resounding voice, bitter and melancholy, dreaming of a day when Vietnam has no more hardship
Dư âm vang xa, tiếng hát nghẹn ngào qua hành lang bay vút lên cao
The echo spreads afar, singing choked with emotion passes through corridor rushing up high
Nghe vang đêm đêm tiếng hát hòa bình
Every night hear the resounding voice of peace
Bao giờ mộng tan lũ cuồng chinh
When can I dream to break up the warmongers
Nghe vang đêm đêm tiếng hát nguyện cầu thanh bình trở về quê hương yêu dấu
Every night hear the singing, praying for peace to return to the beloved homeland.

3
Từ địa ngục này xin gửi thế giới tự do tiếng ca hy vọng tâm tư nguyện ước hẹn hò
From this hell, please send the world through hopeful singing, wishing for a promise
Từ địa ngục này xin gửi nỗi nhớ niềm thương rồi đây xóa tan hận quê hương lòng nung sôi ý chí quyết cường
From this hell, please send this longing then abolish hatred at home, hearts seethe with powerful, determined will.

viết ở Chí Hoà, 12/1981

nguồn: Vũ Đức Nghiêm, Tình ca & Ngục tù ca (San Jose, CA: Vu Duc Nghiem, 1991).


Duyên Anh viết về tù Chí Hòa trong quyển Nhà Tù: Hồi ký (Los Alamitos, CA: Xuân Thu, 1987).  Ông ước mà ông đã được như các sĩ quan và được đi trại cải tạo.  Nhà tù tội tề hơn trại cải tạo.  Trại cải tạo rộng và thoáng hơn.  Lao động hay hơn ngồi một chỗ trong bóng tối nóng nực ("xà lim tăm tối như đêm dài").

Tôi chưa biết chính xác tại sao Vũ Đức Nghiêm bị đưa và tù Chí Hòa.  Tôi chỉ được đọc rằng "Sau vụ biến động Hàm Tân, Nhạc sĩ [Vũ Đức Nghiêm] bị C[ộng] S[ản] nghi ngờ là một trong những “đầu não” và đưa về Chí Hòa biệt giam" (nguồn: Hoàng Lan Chi, "Giới thiệu 'Vũ Đức Nghiêm, Anh Tôi' của Vũ Trung Hiền," Hoàng Lan Chi [blog] 16 tháng 7 2011).

Bị kỷ luật nặng như thế nhưng "không chịu qùy gối gục đầu" với "lòng quặn đau căm hờn sôi tim ứa máu."  Đây là một bài ca đầy cảm xúc - "nước mắt rơi," "buồn," "hận sầu," "nghẹn ngào."  Nhưng vẫn "tha thiết," "vang tiếng hát hoà bình," và "tiếng hát hòa bình."  Vũ Đức Nghiêm theo đạo Thiên Chúa như vậy ông tựa vào niềm tín ở Chúa.  Ông "nghe vang đêm đêm tiếng hát nguyện cầu thanh bình trở về quê hương yêu dấu."

Điều nổi bật ở xà lim là thời gian.  "Ngày dằng dặc buồn như dài đến ngàn thu."  "Ánh sáng" là của một "ngày mai" xa lắm.

Ông ao ước "thanh bình," và "xóa tan hận quê hương."  Có "lũ giặc thù" và "lũ cuồng chinh," làm sao có "thanh bình," làm sao mà "xóa tan hận quê hương."  Hận thù và hòa bình rất khó đi với nhau.  Nhưng trong ngục tù tăm tối nóng nực thì "lòng nung sôi ý chí quyết cường."

8 tháng 4, 2016

Còn yêu em mãi (Yet I'll Love You Forever) - Nguyễn Trung Cang (1977-8)

Slow rock

1.
Yêu em như thuở nào tình yêu còn biên đầy trang giấy
I love you as much as any time, love recorded filling pages
Yêu em như thuở nào tình yêu còn đong đầy trang sách
I love you as must as any time, love filling pages
Dù biết trái tim đã già mà những thiết tha chẳng nhòa
Though I know my heart has gotten old but my ardor is definitely unfaded
Tình cũ vẫn nghe ấm nồng
A love of old still feels warm
Gọi tên nhau lúc cô đơn để nghe sưởi ấm tâm hồn
Calling each others' name when we're alone to warm our souls

2.
Em ơi! đây tiếng đàn lời ca dệt ân tình năm tháng 
My dear! here's the sound of my guitar, my singing weaves the love of months and years
Câu ca hay khúc nhạc tình yêu còn đong đầy khao khát
Lyrics or musical piece, love's still full of longing
Dù có cách xa mỏi mòn mà những dấu yêu mãi còn
Though I'm far away, wasting, yet love forever remains
Sưởi ấm xác thân héo gầy
Warming a dried out, emaciated skeleton
Tình yêu như gió đem mây
Love like wind bringing clouds
Gọi mưa giăng kín khung trời
Call the rain to spread over the heavens

Điệp khúc
Này em hỡi! Ta mơ ngày sẽ tới khi tương phùng em khóc cho niềm vui vì hạnh phúc!
And dear! I dream a day will come, a reunion when you will cry for joy and happiness
Ngọt hay đắng, trong cuộc đời mưa nắng ta luôn cười trong giấc mơ hạnh phúc xưa tuyệt vời
Sweet or bitter, in life, rain or shine, we always smile in our wonderful, happy dream of long ago

3.
Riêng ta nơi núi rừng về đêm càng nghe hồn băng giá câu ca hay khúc nhạc càng thêm sầu cho tình tan nát
It's me in the mountain jungles at night, heart frozen, the lyrics or musical piece is sadder with a love that has fallen to pieces
Dù biết cách xa với đời dù biết thủy chung chẳng rời 
Though knowing we're far apart, though knowing we're faithful we won't separate
Mà vẫn xót xa tháng ngày 
And are still pained for months and years
Chờ ta chi nữa em ơi?
Why wait for me more?
Còn đâu giây phút tuyệt vời
Where have those wonderful moments gone?

Nguồn: Nguyễn Trung Cang, Kể từ lúc ấy: Tâm ca tình khuê (Sài Gòn: Tác giả, ??).


Việt Nam có mấy vạn ca khúc nhớ nhung?  Về phong cách bài ca cũng tiêu biểu cho sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Trung Cang.  Nhạc sĩ này viết một ca khúc phản ánh xúc cảm của nhiều người tình phải xa cách nhau.  Nhưng bài hát này hoàn cảnh đặc biệt phụ thuộc vào tiêu sử nhạc sĩ sáng tác.

Nguyễn Trung Cang viết hai phiên khúc đầu tháng 10 1977 khi nằm bệnh viêm phổi ở tu viện Fatima (một trung tâm cai ma túy ở Bình Triệu).  Phiên khúc thứ 3 và điệp khúc của bài ca này được sáng tác tháng 8 1978 ở trại Phú Văn, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước.  Như vậy "Còn yêu em mãi" là một bài ca phản ánh đời sống của trại viên của trại cải tạo Việt Nam.

Trong lời ca thì có hai đoạn biểu lộ đời sống của một người bị cải tạo để cai ma túy.  Phiên khúc 2 nói đến sự "mỏi món" và "xác thân héo gầy."  Phiên khúc 3 đề cập đến "nơi núi rừng."  Sức khỏe suy sút của một bệnh nhân, một cải tạo viên sẽ bị mỏi món, héo gầy.  Từ "nơi núi rừng" là uyển ngữ thay thế "cõi rừng thiêng nước độc" của trại cải tạo.

Một yếu tố nữa cần biết về hoàn cảnh "Còn yêu em mãi" là người "em" của bài ca là Thúy, vợ đầu của Nguyễn Trung Cang.  Lúc sáng tác bài ca này hình như cuộc hôn nhân hai vợ chồng này đang tan vỡ.  Như vậy câu "Chờ ta chi nữa em ơi? / Còn đâu giây phút tuyệt vời" rất đầy ý nghĩa trong thực tế.


"Còn yêu em mãi" của Nguyễn Trung Cang được mới được phổ biễn qua đĩa Còn yêu em mãi: Tình khúc Phượng Hoàng của nam ca sĩ Vũ Khanh thu năm 1994 (Diễm Xưa Productions).  Lê Huy, một thành viên của ban Phượng Hoàng trước 1975, đã phát hiện bài ca này, phối khí và biên tập đĩa này.  Lê Huy cũng thuê dàn nhạc dây Hollywood khi thực hiện ca khúc này.

Trước đây chỉ có các bạn cải tạo viên hay bạn chơi nhạc với Nguyễn Trung Cang trước khi ông chết năm 1985 biết bài ca này.  Có người với nick Thuyen Nguyen bình luận trên Youtube cách đây một năm:
bài này tôi có được năm 1984, bản truyền miệng. mãi đến 10 năm sau lần đầu tiên xuất hiện trên cd tại hải ngoại do vũ Khanh hát trong album Còn yêu em mãi. Đây là bài nhạc lưu lạc 10 năm mới xuất hiện chính thức trên đĩa nhạc. Anh nào ở trại Phú Văn trước năm 90 đều biết.
Các trại giam tập trung ở Việt Nam có văn hóa nhóm (subculture) riêng.  Vậy "Còn yêu em mãi" (và không biết bao nhiêu ca khúc khác) được phổ biên truyền miệng.  Một người nghiên cứu văn hóa dân gian rất nên nghiên cứu về hiện tượng này.

"Còn yêu em mãi" cấp phép biểu diễn ở nước Việt Nam Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghiã 21 tháng 10 2013.  Nếu tôi không nhầm tôi là bài ca duy nhất được soạn ở trại cải tạo mà cấp phép như thế.

26 tháng 3, 2016

Sài Gòn chỉ vui khi các anh về (Saigon Will Only Be Happy When You Brothers Are Back) - Bảo Chương [tức Duy Trác] (1980?)

Tôi đã gặp em bỡ ngỡ tình cờ
I met you quite by surprise
Đôi mắt ngây thơ đến từ thành phố
A pair of innocent eyes from the city
Ngục tù tối tăm nói với cuộc đời
The dungeon dark speaks to life
Sàigòn có vui? Sài gòn có vui?
Is Saigon happy?  Is Saigon happy?
Em ngước nhìn tôi cúi đầu nói nhỏ
You looked up at me, bent your head, and said softly
"Còn gì nữa đâu thành phố mộng mơ
"What's left of the dreamy city
Thành phố đớn đau vẫn còn nhắn nhủ
The afflicted city continues to remind us
Sài gòn chỉ vui khi các anh về."
Saigon will only be happy when you brothers are back."

Tôi sẽ về đòi lại quê hương đã mất
I will go back to ask back the homeland that's been lost
Tôi sẽ về cùng em lau khô hàng nước mắt
I will go back with you wiping dry the tears
Tôi sẽ mời em dạo chơi phố xá tươi vui
I will invite you to stroll on joyful streets
Những con đường tình, trường xưa công viên tràn nắng mới
Streets of love, the school of long ago, parks all overflowing with new sunshine
Tôi sẽ về quỳ bên thánh giá bao dung
I will go back to kneel before the generous cross
Tôi sẽ nguyện cầu cho tình yêu và cuộc sống
I will pray for love and for life
Đem tiếng khóc cười dâng đời khúc hát say mê
Offer tears and laughter to life in an impassioned song
Cám ơn Sài gòn tôi sẽ trở về
Thank you Saigon I will come back
Sài Gòn mến yêu!
Beloved Saigon!
Người tình dấu yêu!
Dearest lover!
Tôi sẽ trở về!
I will come back!


Theo thông tin trên mạng thì bài ca "Sài Gòn chỉ vui khi các anh về" xuất phát từ một trại cải tạo (thực ra thông tin trên mạng thì khó biết là đúng hai không đúng).
Một hôm cùng anh em tù cuốc đất bên đường vào trại tù, thấy mấy bà đi thăm chồng đi trên đường, người tù Duy Trác hỏi: 
– Sài Gòn có gì vui không, mấy chị? 
Một bà trả lời: 
– Sài Gòn chỉ vui khi các anh về. 
Cảm khái vì câu nói, Duy Trác làm bản nhạc “Sài Gòn chỉ vui khi các anh về “. Năm 1982 Duy Trác gửi bản nhạc sang Pháp, ký tên tác giả là Ve Sầu. Bọn Công An Phản Gián dò biết, chúng bắt Duy Trác, chúng kết tôi bản nhạc có ý nói “Sài Gòn chỉ vui khi những chiến sĩ Phục Quốc trở về.” Chúng phang Ve Sầu 4 năm tù.
nguồn: "Sài Gòn chỉ vui...," Hoàng Hải Thủy (backup) blog (11 tháng 3 2008).


Khuất Duy Trác là ca sĩ Duy Trác được nhiều người ái mộ vì giọng trữ tình hát nhạc tiền chiến.  Lúc lúc bấy giờ thì độ tối thiểu 2 đến 4 phần trăm nam giới miền Nam đang bị giam ở tù hay trại tập trung.  Nếu chỉ tính đến những đàn ông từ 20 tuổi trở lên thì tỷ lệ này phải cao hơn.  Còn các người đó để lại các người vợ, người mẹ, và các con.  Nói "Sài Gòn chỉ vui khi các anh về" rất hợp với thời cuộc.  Đây là những lời của các người bị giam không biết sẽ có ngày được thả về - những người rất cần nghe lời hát này.  Người Sài Gòn buồn nhớ các người bị giam.

Lời hát "Sài Gòn chỉ vui khi các anh về" gần như không phản ánh tình trạng ở nhà tù.  Chỉ có hai từ "ngục tù" nhưng hai từ này cũng được sử dụng trong những bài hát khác theo nghĩa ẩn dụ.  Đối với dân miền Nam lúc bấy chữ ngục tù phản ánh thực tế.  "Ngục tù tối tăm nói với cuộc đời."  Cuộc đời trong bài hát được tượng trưng bằng "đôi mắt ngây thơ."  Đôi mắt ngây thơ là các vợ từ thành phố đến thăm nuôi.  Ngây thơ vì không thể được biết sự tủi nhục của các người bị giam ở trại cải tạo.  Nhưng thực ra các phụ nữ bị chia cách người chồng không thể ngây thơ mấy.  Đời sống ở xã hội ở ngoài các trại cũng có sự tủi nhục khác.  Nguyễn Ngọc Ngạn kể rằng dân Sài Gòn nói về đời sống trại cải tạo:
Actually it's not so very different from life here in Saigon.  In a way you were luckier.  At least you would count on some food.  Here many are starving.  We work six days a week for very little pay [Thực ra không khác gì với đời sống đây tại Sài Gòn.  Theo một cách nhìn các bạn được may mắn hơn.  Tối thiểu các bạn đươc tựa vào ít đồ ăn cung cấp.  Ở đây nhiều dân đang chết đói.  Chúng tôi làm sáu ngày trong tuần với lương rất ít - nguồn: Nguyễn Ngọc Ngạn với E.E. Richey, The Will Of Heaven: A Story of One Vietnamese and the End of His World (New York: E.P. Dutton, 1982), tr. 306.

Có lẽ điều lạ nhất là bài hát này được giới thiệu theo nhịp bossa nova. Bossa là nhịp điệu của bãi biển Rio ở Brazil.  Bossa nghe rất thong thả và thanh thẩn - phải nói là trái ngược với sự khẩn trường.  Các anh về là việc khẩn trường chứ?

Nhưng bài ca này có một ý nghĩa bao quát hơn là cặp vợ chồng bị chia cắt cũng muốn được "dạo chơi phố xá tươi."  Họ muốn sống bình thường.  Họ muốn Việt Nam được sống bình thường.  Họ muốn được trở về "những con đường tình, trường xưa công viên tràn nắng mới."  Đi dạo trên những con đường tình thì cũng phải thong thả.  Đọc đoạn này tôi nhắc đến bài ca "Qua cơn mê":
Ta sẽ thăm từng người, sẽ đi thăm từng đường, sẽ vô thăm từng nhà. ...
Trường quen vắng ta mai ta lại về cùng theo lũ em học hành như xưa
Bài ca của Trần Trịnh và Nhật Ngân phản ánh khát vọng trở về một đời sống bình thường sau Hiệp Định Paris.  Chiến tranh hết thì mỗi người sẽ được trở về một thời "tiền chiến."  Mỗi người sẽ tìm đến sự ngây thơ thuở "học hành."  Nhưng sau biến cố 1975 không ai được ngây thơ như thế nữa.  Nếu có "những con đường tình, trường xưa công viên" thì tất cả chỉ được xuất hiện trong "tràn nắng mới."  Hy vọng ở "tràn nắng mới" chắc cũng ngây thơ thôi - vậy bài ca cũng bày tỏ một cơn mê khác mà phải qua.

Việc các anh về chắc sẽ không được đem về cái "nắng mới."  Nhưng được về cũng có nghĩa là được tồn tại, như vậy cũng là thắng lợi.  Về là được "đem tiếng khóc cười dâng đời khúc hát say mê."  Ở xã hội xã hội chủ nghĩa thời bao cấp ai được phép khóc, ai được phép "hát say mê" - hai cái này rất cá nhân chủ nghĩa.  Còn cái nhịp bossa cũng phản ánh niềm say mê - như vậy nhịp ấy tôi cũng bắt đầu thấy thích hợp.

10 tháng 3, 2016

Hai hàng cây so đũa (Two Rows of Hummingbird Trees) - Trọng Minh, lời Nguyễn Huy (1981)

Hai hàng cây so đũa
Two rows of hummingbird trees
Lặng đứng nhìn xe qua
Stand silently watching a bus pass
Lên thăm anh lần cuối
Coming to visit me a last time
Hàng cây cũng nhạt nhòa
Rows of trees without color
Lên thăm anh lần cuối
Come up to visit me a last time
Trong lòng em khóc thầm
In your heart, hidden tears
Lên thăm anh lần cuối
Come up to visit me a last time
Trong lòng em khóc thầm
In your heart, hidden tears

ĐK:
Đưa con đi tìm sống
Taking our child to go look for a life
Trùng dương thật mênh mông
The ocean's really wide
Bờ tự do vẫy gọi
Freedom's shore beckons
Hợp tan rồi có không
Our reunion ends then there's nothing
Hợp tan rồi có không
Our reunion ends then there's nothing
Đời anh rồi vắng không
My life is then emptiness
Đời em rồi vắng không, vắng không
Your life is then emptiness, emptiness

Ra đi bao hờn tủi
You leave, there's so much anguish
Em ngậm ngùi khóc thương
You cry with such sorrow
Thương anh đợi mòn mỏi
Pity me who must wait here wasting
Hờn căm ngút đoạn trường
Hatred overloaded with sorrow
Lên xe về, con hỏi?
Boarding the bus, my kid asks -
Mẹ ơi, đến bao giờ lên thăm ba lần nữa
Mom, will we visit dad another time?
Mắt em nhòa hơi mưa
Your eyes are bleary with rain


Thanh Lan ca "Hai hàng cây so đũa"

Ông Trọng Minh soạn ca khúc này kể:

Tôi nhớ lúc đó khoảng tháng 6 năm 1981, chúng tôi bị giam giữ tại Gia Rai, thị xã Xuân Lộc, tỉnh Long Khánh, chỗ đó là Z30A, vào một buổi trưa, chúng tôi được anh Nguyên Huy mời một party nhỏ, bởi vì hôm trước đó, anh được chị cùng 2 đứa con lên thăm có mang cho anh một chút quà bánh. 
Trong câu chuyện anh có vẻ không vui, khi hỏi ra mới biết chị dẫn các cháu lên thăm anh lần cuối trước khi tìm đường vượt biên hy vọng đến được bến bờ tự do. Anh quá xúc động, nên đêm trước đó, anh làm bài thơ và đọc cho mọi người nghe, bài thơ cảm động và nói lên một phần nào tâm trạng của riêng tôi. Tôi yêu cầu anh chép cho tôi bài thơ đó, hy vọng là tôi có hứng thú để viết nên bài nhạc. Thật là may mắn tôi có đủ cảm xúc và hứng thú để hoàn thành bài nhạc trong 2 ngày sau đó. Lấy tựa đề là bài Hai Hàng Cây So Đũa vì 2 bên đường dẫn vào nhà thăm nuôi là 2 hàng cây so đũa. 
Nội dung bài nhạc đó, nói lên tâm trạng của người vợ đưa con lên thăm chồng trong tù, để từ giã trước khi lên đường vượt biên. Trong nỗi hoang mang không biết có đi trót lọt hay không, gặp nguy hiểm gì hay không, không biết có còn gặp lại nhau hay không, đó là những tình cảm hoài nghi, quyến luyến giữa 2 vợ chồng. Điều đó làm tôi xúc động nên viết bài Hai Hàng Cây So Đũa này. [nguồn: Vũ Hoàng, "Tù Ca Việt Nam," RFA Đài Á Châu Tự Do (29 tháng 4 2012)]

Trong bài hát này có hai xúc cảm chính - ngậm ngùi và hờn căm.  Bài thơ và ca khúc được viết trong cảnh rất éo le.  Người bị giam không được biết "đời mòn mỏi" sẽ kéo dài đến bao giờ?  Còn người vợ không được biết "đường vượt biên" sẽ ra sao.  Cũng có nhiều người bỏ mạng trên đường này, rồi khi được đến xứ khác thì đời còn nhiều thử thách khác.  Như vậy "hợp tan rồi có không."

Cây so đũa là một loại cây của vùng nông thôn miền Nam, và chắc cây so đũa của bài ca này phải hiểu theo nghĩa đen.  Tại bữa ăn gia đình việc so đũa là của các người con.  Nếu con của mình vượt biển sống ở nước ngoại thì không biết bao giờ có người so đũa cho mình.

4 tháng 3, 2016

Open Letter To The Socialist Republic of Vietnam (Bức thư ngỏ gửi cho nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam) (1979)


Tháng 5 năm 1979, ca sĩ Joan Baez là Chủ Tịch của Humanitas / International Human Rights Organization đã ghi tên trên một bức thử ngỏ gửi đến chính phủ Việt Nam.  Ở cột bên phải có tên của nhiều nhà văn, nghệ sĩ, nhà trí thức, nhà chính trị thuộc phe tiếng bộ của xã hội Mỹ đã từng nhiệt liệt chống đối sự can tiếp của nước Việt thời chiến tranh.  Các vị này là từng là bạn hữu của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

Trong thư ngỏ này các vị chống việc bắt giam hằng trăm nghìn người Việt Nam ở các trại cải tạo.


It was an abiding commitment to fundamental principles of human dignity, freedom and self-determination that motivated so many Americans to oppose the government of South Vietnam and our country’s participation in the war.  It is that same commitment that compels us to speak out against your brutal disregard of human rights.  As in the 60s, we raise our voices now so that your people may live.

[Bởi sự cam kết bất diệt hiến cho nguyên tắc căn bản về nhân phẩm, tự do và quyền tự quyết đã làm thúc đẩy biết bao người Mỹ chống đối chính phủ miền Nam Việt Nam và sự tham dự của nước chúng tôi trong cuộc chiến tranh.  Chính bởi sự cam kết như vậy bắt buộc chúng tôi phải nói to về hàng động tàn ác bất chấp nhân quyền của các bạn.  Như trong những năm 1960, chúng tôi lên tiếng bây giờ để đồng bào của các bạn được sống.]

Như vậy chính phủ nước Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam phải coi rất quan trọng và cần thiết việc bắt giam cải tạo các người của chính phủ cũ đến mức mà sẵn sàng mất lòng tin tưởng của bạn bè cũ.  Chính sách cải tạo này làm nước Việt mất uy tín của trong mắt của nhiều người từng ủng hộ Việt Nam và chắc làm ảnh hưởng xấu trong việc bình thường hóa quan hệ Việt Mỹ.

Danh sách ở trên gồm rất nhiều người tên tuổi.  Ansel Adams là nhà nhiệp ảnh rất nổi tiếng.  Robert Bly, Allen Ginsberg, Lawrence Ferlinghetti và Gary Snyder đều là những nhà thơ xuất sắc nhất của nước Mỹ lúc bấy giờ.  Pat Brown cựu thống đốc California là bố của thống đốc Jerry Brown.  Bill Graham là bầu sô cho các chương trình thời hoàng kim nhạc rock.  Mike Nichols là đạo diễn, nhà sản xuất nổi tiếng.  Lina Wertmuller là nữ đạo diễn người Ý.  William Styron là tiểu thuyết gia nổi tiếng.  Peter Yarrow là thành viên của ban nhạc folk Peter, Paul and Mary.  Charles M. Schulz là họa sĩ truyện tranh được người Mỹ được rất yêu mến.  Nổi bật nhất là Cesar Chavez là một con người huyền thoại trong lịch sử bởi vì việc tổ chức công nhân nông trại ở Mỹ để bảo vệ nhân phẩm của các người Mỹ gốc Mê làm việc cực khổ ở miền đồng quê.

Joan Baez cũng là một người có vai trò lớn trong đời sống văn hóa Mỹ.  Nữ nghệ sĩ này là một người then chốt trong phong trào phục hồi nhạc dân gian Mỹ (gọi là nhạc folk) từng là bạn gái và người hưởng dẫn Bob Dylan.  Khi học lớp 7 tôi nhớ mãi khi mà thầy giáo Kenney giới thiệu giọng hát và các bài ca ballad Joan Baez hát cho học trò nghe.  Joan Baez có giọng ngọt ngào và truyện cảm hát lại các bài dân ca miền núi Mỹ gốc Ai Lan và Scotland.  Tôi đã đắm nghe bài hát "House Carpenter" (Thợ mộc xây nhà).


Joan Baez nhiệt tình chống chiến tranh ở Việt Nam và từng đến Hà Nội hát cuối năm 1972.  Bà có mặt trong 12 ngày tháng 12 lúc nước Mỹ nem bom ở Hà Nội.  Như báo Tuổi Trẻ viết sau đây, Joan Baez "đứng về phía Hà Nội bằng tiếng hát."  Bảy năm sau Joan Baez là người đứng đầu lên án việc bắt giam các lính và công chức của chế độ cũ miền Nam của Hà Nội.

26 tháng 2, 2016

Nghị quyết 49 (Decision 49)

UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI******
VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********
Số: 49-NQ/TVQH
Hà Nội, ngày 20 tháng 06 năm 1961 

NGHỊ QUYẾT
VỀ VIỆC TẬP TRUNG GIÁO DỤC CẢI TẠO NHỮNG PHẦN TỬ CÓ HÀNH ĐỘNG NGUY HẠI CHO XÃ HỘI
ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
Căn cứ vào các điều 38, 39, và 40 của Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa;
Để tăng cường việc giữ gìn trật tự an ninh, bảo vệ lợi ích của Nhà nước và của nhân dân;
Để đẩy mạnh việc giáo dục cải tạo những phần tử có hành động nguy hại cho xã hội trở thành những người lao động lương thiện;
Theo đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
QUYẾT NGHỊ:
1. Nay quy định việc tập trung để giáo dục cải tạo những phần tử dưới đây, từ 18 tuổi trở lên, có hành động nguy hại cho xã hội, đã được giáo dục nhiều lần mà không chịu hối cải, nhưng xét không cần đưa ra Tòa án nhân dân xử phạt:
a) Những phần tử phản cách mạng ngoan cố, có hành động phương hại đến an ninh chung;
b) Những phần tử lưu manh chuyên nghiệp.
2. Việc giáo dục cải tạo thực hành theo phương châm kết hợp lao động với giáo dục chính trị, nhằm mục đích khuyến khích người được giáo dục cải tạo cố gắng lao động sản xuất, học tập nghề nghiệp, cải tạo tư tưởng để trở thành người lương thiện.
Những người được giáo dục cải tạo không bị coi như phạm nhân có án phạt tù, nhưng trong thời gian giáo dục cải tạo không được hưởng quyền công dân.
Trong thời gian giáo dục cải tạo, những người được giáo dục cải tạo được hưởng một chế độ thích đáng về lao động, học tập, ăn ở, và phải tuân theo kỷ luật giáo dục cải tạo; nếu vi phạm kỷ luật đó thì tùy trường hợp nặng nhẹ sẽ bị truy tố trước Tòa án nhân dân hoặc bị xử lý về hành chính.
3. Thời hạn giáo dục cải tạo là 3 năm. Tuy nhiên những người thật sự cải tạo trước thời hạn sẽ được về sớm hơn. Đối với những người hết thời hạn 3 năm mà không chịu cải tạo thì thời hạn giáo dục cải tạo có thể bị kéo dài.
4. Ủy ban hành chính khu tự trị, thành phố và tỉnh trực thuộc trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương căn cứ vào đề nghị của Sở hoặc, Ty Công an mà xét và quyết định những trường hợp cần tập trung để giáo dục cải tạo. Quyết định của Ủy ban hành chính phải được Hội đồng Chính phủ duyệt y trước khi thi hành.
Việc cho về trước thời hạn hoặc kéo dài thời hạn giáo dục cải tạo do Hội đồng Chính phủ quyết định căn cứ vào nhận xét của cơ quan phụ trách giáo dục cải tạo.
5. Viện Kiểm sát nhân dân có trách nhiệm kiểm sát việc theo đúng pháp luật của Ủy ban hành chính, cơ quan Công an và cơ quan phụ trách giáo dục cải tạo trong việc quyết định tập trung giáo dục cải tạo và chấp hành các chế độ giáo dục cải tạo.
6. Hội đồng Chính phủ quy định biện pháp cụ thể thi hành Nghị quyết này.


STANDING COMMITTEE OF THE DEMOCRATIC REPUBLIC OF VIETNAM
PREMIER

Trường Chinh
nguồn: Thư Viện Pháp Luật

STANDING COMMITTEE OF THE NATIONAL ASSEMBLY******
DEMOCRATIC REPUBLIC OF VIETNAM
Independent - Free - Happy 
********
Số: 49-NQ/TVQH
Hà Nội, June 20 1961 

DECIDED
FOR FOCUSING EDUCATION TO REMOLD ELEMENTS WHOSE ACTIONS ARE HARMFUL TO SOCIETY
STANDING COMMITTEE OF THE DEMOCRATIC REPUBLIC OF VIETNAM
Founded on articles 38, 39, and 40 of the Constitution of the Democratic Republic of Vietnam;
To strengthen the maintenance of order and security, protect the interests of the Government and the people;
To promote education to remold elements whose actions are harmful to society to become conscientious workers;
According to the suggestions of the Supreme People's Organ of Control;
DECIDED:
1. Now it is determined to focus on education to remold the elements below, from age 18 and older, whose actions are harmful to society, have been educated many times but have no remorse, but have been adjudged unnecessary to bring to the Peoples' Court to punish:
a) Die hard opponents of the revolution whose activities are harmful to the general security;
b) Elements who are professional ruffians.
2. Education through remolding carried out according to the motto of coordinating labor with political education, with the aim of encouraging those receiving remolding education to try to labor productively, study a profession, remold their thoughts to become conscientious people.
Those receiving remolding education are not seen as criminal sentenced to prison, but during a time receiving remolding education that do not enjoy the rights of a citizen.
During the time of remolding education, those receiving a remolding education enjoy a regime suitable for labor, study, living, and must obey the discipline of remolding education; if there is a violation of that discipline then in serious or light circumstances will be prosecuted before a Peoples' Court or resolved administratively.
3. The time period for remolding education is 3 years. However those who are really remolded earlier that the time period will be returned home sooner. Those who after the 3 year time period who do not allow themselves to be remolded can have their time period of remolding education extended.
4. The administrative committee of autonomous zones, cities and provinces directly subordinate to the center or equivalent administrative units based on the recommendations of the office or Police bureau that consider and decide which cases needed to be concentrated for remolding education.  The Administrative committee's decision must be approved by the Administrative Council before it is implemented.

Release before the time limit or extending the time limit of remolding education is decided by the Administrative Council based upon the observations of the agency responsible for the remolding education.
5. The People's Organ of Control is responsible for controlling this actions correctly according to the laws of the Administrative committee, Police agencies and agencies responsible for remolding education in the decisions to concentrate remolding education and execute the remolding education regime.
6. The Administrative Council stipulates the concrete means of implementing this Decision.


STANDING COMMITTEE OF THE NATIONAL ASSEMBLY OF THE PEOPLE REPUBLIC OF VIETNAM
PREMIER

Trường Chinh


Chính phủ Việt Nam tạo nên một chế độ "giáo dục cải tạo" nhằm mục đích đối xử với "phần tử có hành động nguy hại cho xã hội" để họ "trở thành những người lao động lương thiện."  "Phần tử có hàng động nguy hại cho xã hội" là những ai?  Thứ nhất là những người "phản cách mạng ngoan cố, có hành động phương hại đến an ninh chung."

Trong văn bản này cách mạng là gì?  Tôi nghĩ là câu định nghĩa thứ 4 trong Từ Điển Tiếng Việt (Trung Tâm Từ Điển Học, 2007) là: "cách mạng tháng Tám [nói tắt]."  Phần tử phản cách mạng này phải phản "cuộc cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Đông Dương đánh đổ ách thống trị của thực dân và chế độ quân chủ, giành độc lập tự do" (mục "Cách mạng Tháng tám 1945 ở Việt Nam" trong Từ Điển Bách Khoa Việt Nam tập 1 A-Đ, Trung Tâm Biên Soạn Từ Điển Bách Khoa Việt Nam, 1995, tr. 328).  

Đi thêm một bước lô-gích nữa thì phản cách mạng có nghĩa là phản đối sự lãnh đạo của Đảng cộng sản.  Tại sao văn bản ở trên không nói "phản đối sự lãnh đạo của Đảng cộng sản."  Hình như chữ cách mạng, dù không chính xác trong trường hợp này, nhưng có vị thiêng liêng và vĩ đại hơn Đảng cộng sản?  Có lẽ khái niệm "cách mạng" cũng là ngụ ý sự ưng thuận của toàn xã hội với sự lãnh đạo của Đảng cộng san đã từng cứu nước?  Như vậy phản cách mạng có nghĩa là phản khối xã hội mà nhất trí với các ý kiến và hành động của Đảng cộng sản. 

Phần tử thứ hai mà được hưởng giáo dục cải tạo là những người "lưu manh chuyên nghiệp."  Lưu manh nghĩa là "kẻ lười lao động, chuyên sống bằng trộm cắp, lửa đảo" (Từ Điển Tiếng Việt).  Lưu manh chuyên nghiệp có khác với lưu manh tài tử?  Thế nào những người này phải "trở thành những người lao động lương thiện."

Tại sao người phản đối sự lãnh đảo của Đảng cộng sản và các kẻ trộm, kẻ bịp tương tư nhau?  Có lẽ hai phần tử này không giống nhau cả?  Chỉ có việc là Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội thấy rằng họ có một dụng cụ tốt để giải quyết hai vấn đề đó.

Việc giáo dục cải tạo chỉ có thể thực hiện trong một xã hội khép kín.  Nếu con người có nhiều con đường lựa chọn khác thì họ rất khó cải tạo (xem Hu Ping, The Thought Remolding Campaign of the Chinese Party-State [Chiến dịch cải tạo tư tưởng của Đảng-Nhà nước Trung Quốc] Philip F. Williams và Yenna Vu dịch sang tiếng Anh, Amsterdam University Press, 2012, 15].  Phải có độc tài về tư tưởng [ideological dictatorship, tr. 18].  Một điều nữa là quan điểm chính trị phải xác định đạo đức [tr. 22].  Đạo đức là yếu tố căn bản của giáo dục cải tạo.  Một người sai quan điểm chính trị là một kẻ trái đạo đức - giống như kẻ cấp, kẻ lừa bịp.  

Những người trái đạo đức rất "nguy hại cho xã hội" như vậy phải tách ra và tập trung những người đó.  Tập trung để bảo vệ những người có đạo đức.  Các phần tử xấu cũng phải được tập trung để họ được quản lý và đào tạo.  Nhưng tập trung để làm gì?  Để "kết hợp lao động với giáo dục chính trị."  Theo nghị quyết này thì 3 năm lao động và giáo dục chính trị là mục tiêu.  Sau 3 năm được cải tạo một con người bình thường sẽ trở về xã hội thành "một người lao động lương thiện" nhất trí với Đảng cộng sản.  Như Hu Ping viết về Trung Quốc thời Mao Trạch Đông: "[The goal] is to bring about people's identity with and loyalty to the CCP's authoritarian regime" [Mục đích là gây ra tính đồng nhất và lòng trung thành với chế độ độc tài của Đảng Cộng sản Trung Quốc. tr. 28]

Có lẽ chụm chữ quan trọng nhất trong tư liệu này là "xét không cần đưa ra Tòa án nhân dân xử phạt."  Ai xét?  Ty Công an xét.  Không đưa kẻ phạm tội trước Toà án để kết án.  Nhưng việc phạm tội không có trong tư liệu trên - "Những người được giáo dục cải tạo không bị coi như phạm nhân có án phạt tù."  Cái vấn đề là đạo đức, chứ phải là vi phạm.  Một mặt của lao động cải tạo là sự ăn năn.  Khi đang lao động thì cải tạo viên sẽ được nhận ra các hối lỗi của mình cùng thời mà được giáo dục cải tạo hưởng dẫn mình nhất trí với đường lối của người bắt mình vào trại để lao động.

22 tháng 2, 2016

Anh ở đây (I Am Here) - Thục Vũ (1975-6)

1-
Anh ở đây bạn bè anh cũng ở đây
I am here, my friends are here as well
Áo rách xác xơ vai gầy cùng chung kiếp sống lưu đầy
Shirts frayed and worn, gaunt shoulders, a shared fate of banishment
Anh ở đây ngày ngày cơm chưa đầy chén
I am here, day after day rice not filling my bowl
Chiều chiều xa trông đàn én kiếm mồi thấp thoáng bay nhanh
Every evening, afar seeing the swallows looking for their prey come and go in rapid flight

Toa liền toa, tầu đi trong ánh hoàng hôn
Car after car, a train goes in the dusk's last light
Tiếp nối những dư âm buồn thành thơ day dứt tâm hồn
Combined with sad echoes becoming a poem that torments the soul
Trăng ngậm sương mịt mờ không soi nẻo tối đường dài sao rơi lạc lối cho lòng giăng mắc không nguôi
The moon suffers the shadowy fog, it shines not on night's long road, lost falling stars, for feelings hung out with no relief

Chiều Suối Máu xót xa buồn nhớ con
Painful evenings at Bloody Stream remembering my child
Tình thương em vẫn đong đầy khóe mắt
Your love still shows something special in your eyes
Chiều Long Giao sương mờ đêm u uất nhớ thương vơi đầy hẹn hò vương chân mây
Evenings at Long Giao dim fog, melancholy nights remembering incompletely, an encounter stuck in the clouds

Anh ở đây bạn bè anh cũng ở đây vẫn giếng nước sâu bên cầu
I am here, my friends are here as well, there's still a deep well by the bridge
Tìm trăng, trăng vướng giây gầu
Looking for the moon, the moon's tangled in the scoop's rope
Anh ở đây ngày ngày bên trong rào sắt
I am here, day after day inside a iron enclosure
Hận thù ưu tư chồng chất giữa lòng núi cũ sông xưa
Hatred of the enemy, afflictions pile up in the heart of old mountains and ancient rivers

Anh ở đây anh ở đây sao vẫn còn ở đây?
I am here, I am here, why still here?

nguồn: Vũ Đức Nghiêm, Tình Ca & Ngục Tù Ca (San Jose, CA: Vũ Đức Nghiêm, 1991).


Gian khổ vật chất (cơm chưa đầy chén) là điều dĩ nhiên của trại cải tạo.  Xem cánh én bay "thấp thoáng" thì tiếc quyền tự do đi lại của một con người bình thường.  Mặt trăng cũng bị sương che, như bị ngăn cản gặp người thân.  Trăng cũng vướng vào giếng - giếng là rào vậy trăng cũng là tù nhân.  Một xã hội mà làm phát triển hận thù không phải một xã hội hòa bình, không phải một xã hội hòa giải.

Thục Vũ tên thật Vũ Văn Sâm sinh 1932 là dân bắc di cư (quê ở Trực Ninh, Năm Định).  Ông làm trưởng phòng Tâm Lý Chiến ở Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung - đủ để bị cải tạo lâu năm.  Trước năm 1975 nhạc sĩ Thục Vũ cũng tham gia thị trường nhạc ở Việt Nam Cộng Hòa với những ca khúc như "Nỗi niềm thương nhớ" (Diễn Hồng xuất bản năm 1964, Hoàng Oanh ca cho hãng đĩa Việt Nam), "Nắng đổ chiều thu" (Julie Quang ca cho hãng đĩa Việt Nam năm 1970) và "Tình mùa chinh chiến" (Minh Hiếu ca cho hãng đĩa Việt Nam năm 1963).

Trong hồi ký trại cải tạo Đáy địa ngục (San Jose: Thằng Mõ, 1985), Tạ Tỵ nhận xét về Thục Vũ:
Thục Vũ làm nhạc cũng như làm thơ, những tiếng thơ buồn bã mang nhiều uất hận! Thục Vũ vốn có bệnh đau gan nặng, da mặt và mắt anh vàng màu lá úa! Anh ít nói, không thờ ờ cũng chẳng vồn vã. Chúng tôi cùng chung C nhưng không cùng B. ở sát nhà nhau. Tuy ở gần, nhưng ít khi gặp, mỗi lần gặp, tâm sự chẳng muốn nói (tr. 75-6).
Chẳng muốn nói có nghĩ là tinh thần đang bị suy sụp (như Tạ Tỵ).

Nhạc sĩ Thục Vũ không được cải tạo lâu vì chết trong trại ở Sơn La giữa đêm 16-17 tháng 11 1976.  Phan Lạc Phúc (Lô Răng) viết trong Bè bạn gần xa: Bút kỳ (Westminster, CA: Văn Nghệ, 2000):
Đã lâu lắm rồi, người địa phương ở Sơn La nói vậy, mới có năm quá lạnh như năm nay. Đúng là "giậu đổ bìm leo", vào cái lúc mà tù cải tạo ra Bắc, lại đụng ngay một trận rét kinh hồn... Mà xưa nay cái lạnh và cái đói có nó có liên hệ "hữu cơ" với nhau. Càng đói thì càng rét - mà càng rét thì càng đói. Anh em ta đã có người "nằm xuống" vì đói lạnh. Vũ Văn Sâm (viết văn, làm nhạc) chết đêm 16 rạng 17 tháng 11 năm 1976 bên bịnh xá, sau cơn gió mùa đông bắc đầu tiên.


Các bài hát của Thục Vũ cũng có vị tiền chiến giống giống giai điệu Đoàn Chuẩn.  Vậy con trai của ông Chuẩn hát bài ca này cũng được.

Cái hay của bài hát này là đầu đề - tôi ở đây, nghĩa là tôi tồn tại.  Bạn bè tôi ở đây, chúng tôi cũng tồn tại.  Một mục đích của cơ chế cải tạo là cách ly thành phần xã hội "phản cách mạng." Tồn tại là phản kháng.  Thục Vũ không được tồn tại, nhưng "Anh ở đây" tồn tại.  Bài ca này không được phổ biến nhiều và chắc không được ưa thích cho lắm.  Nhưng nó là một tư liệu làm chứng một thời gian ở Việt Nam.

Thực ra bên ngoài tường trại người Việt không được hưởng các giai điệu mềm mại, êm ái như giai điệu này, và không được tâm sự về nỗi "buồn nhớ" trong lòng.