Hiển thị các bài đăng có nhãn Trung Quốc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trung Quốc. Hiển thị tất cả bài đăng

9 tháng 8, 2014

trích "Trước ngã ba lịch sử" của Trọng Lang - chương ba

Sau khi Ngày Nay đăng bài “Lạc vào động Chúa Hàng Bạc”, tôi đến Tòa soạn Ngày Nay vào một buổi chiều, do lời mời của anh Nhất Linh. ...

Mùi hoa thoang thoảng, tiếng đàn tàu tam thập lục thánh thót bài Tiên-Hoa điệu. ...

Anh Tam [tức nhà văn Nhất Linh] vẫn viết. Tôi gọi anh để gọi là có chuyện để nói:

- Ai đánh Dường Khầm thế?

Anh Tam không trả lời thẳng, nhưng cất tiếng gọi:

- Thạch Lam à! Trọng Lang hỏi thăm đấy!

Tiếng đàn im bặt, thì ra nhạc sĩ là Thạch Lam, từ một căn phòng nhỏ, có che màn kín như phòng tối rửa ảnh, anh Thạch Lam gọi tôi hỏi:

- Vào đây Trọng Lang. Thế nào, chép cho bài Nhì Voòng chưa? Hình như tài sìu hay hơn sỉu tìu phải không, anh?

Tôi đáp:

- “Viết rồi, tiểu điệu (sỉu tìu) là ca lý. Ðại điệu là tuồng, kể thì mỗi thứ hay một cách.”

Giờ đây tôi xin nói rõ hơn: anh Thạch Lam đánh đàn tam thập lục khá hay, nhưng anh mới biết mấy bài Tiểu Ðiệu. Nên anh hỏi xin tôi vài bài thuộc đại điệu, như Nhị Vương, như Bang Tứ, vì anh biết tôi còn một nghề riêng là: biết kéo nhị tàu, và là người Việt Nam đầu tiên chơi nhạc tàu, do ông Trần Sềnh đào tạo.

nguồn: Trọng Lang (website)


Trong những năm 1930 có người Hà Nội rành các làn điệu nhạc Trung Quốc.  Thực ra người Hoa là dân tộc thiểu số Việt Nam có dân số cao nhất.  Trước 1980 Hà Nội khá đông người Hoa.  Đến bây giờ vẫn còn đông người Hoa ở Sài Gòn và ở lục tỉnh.  Nhưng tôi chưa thấy công trình hay bài viết nào viết nhạc Hoa ở Việt Nam hay ảnh hưởng của nhạc Hoa trong đời sống âm nhạc của người Việt.

Nói riêng về nhóm Tự Lực Văn Đoàn thì số 87 (năm 1934) của báo Phong Hóagiai điệu Ngũ Điểm do Lemur / Nguyễn Cát Tường minh họa.  Khi Tú Mỡ và Thế Lữ soạn lời châm biếm cho tuồng cải lương nghị viện (xem Ngày Nay 85 - năm 1937) thì họ cũng sử dụng đến điệu Ngũ Điểm.  Trong Hồi ký, quyển một (Thời ấu thơ), Phạm Duy cũng nhắc đến một số giai điệu nhạc Hoa từng nghe trên vỉa hè Hà Nội những năm 1920, 1930.  Còn nhạc hát tuồng / hát bộ / hát bội rất quen thuộc ở Việt thời bấy giờ.

Nhạc Trung Quốc rất gần gủi với người Việt xưa nay.  Vậy ca khúc Việt Nam thỉnh thoảng nghe na ná như nhạc Trung Quốc không phải một chuyện gây ngạc nhiên.

26 tháng 10, 2013

Việt-Nam - Trung-Hoa (Vietnam-China) - Đỗ Nhuận (1964?)

Việt Nam Trung-Hoa,
Vietnam China,
Núi liền núi, sông liền sông,
Joined by mountains, joined by rivers,
Chung một biển Đông, mối tình hữu nghị sớm như rạng đông.
Sharing an Eastern sea, a friendship, early like the dawn.
Bên sông tắm cùng một dòng
At the river bathing in the same current
Tôi nhìn sang đấy, anh nhìn sang đây
I look across there, you look across there
Sớm sớm chung nghe tiếng gà gáy cùng,
Early, early, share the sound of cocks crowing together,
A! a! Chung một ý chung một lòng.
Ah! ah! Sharing an idea, sharing a heart.
Đường tơ đi hồng màu cờ thắng lợi.
Going on a silk road colored red in victory's flag
A-a! Nhân dân ta ca muôn năm
Ah! ah! Our peoples' will forever sing
Hồ Chí Minh, Mao Trạch Đông.
Hồ Chí Minh, Mao Ze Dong.

Việt Nam Trung-Hoa,
Vietnam China.
Khối đoàn kết nay càng tăng
A united front now increasing
Ngăn kẻ thù chung
Blocking shared enemies
Đói no, vất vả, khó nguy, cùng chung
Hungry or full, hard times, danger, we share them together
Chung lưng, đấu cật đời đời
Share on our backs, with all our strength together
Trên đường tranh đấu không rời bên nhau
On the road to fight we won't leave each other
Thế giới hoan hô thắng lợi chào mừng
The world cheers victories and celebrates
A! a! Chung một ý chung một lòng.
Ah! ah! Sharing an idea, sharing a heart.
Đường Lê-nin hồn mầu cờ cách mạng
Lenin's road, the spirit of the red revolutionary flag
A-a! Nhân dân ta ca muôn năm
Ah! ah! Our peoples' will forever sing
Hồ Chí Minh, Mao Trạch Đông.
Hồ Chí Minh, Mao Ze Dong.

Bài này hát theo lối dân gian nam nữ đối xướng hoặc hát đông người cũng được.  Đệm hát: nhị, sáo, trống, xênh tiền, v.v...
This song in a folk manner, men and women singing call and response, or it's alright to sing together.  Accompanying the singing: fiddle, flute, drums, cymbals, etc...

nguồn: Nhân Dân 28 tháng 9 1964, tr. 3.

Bạn Lê Minh Khoa đã khám phá một video của bài hát này sản xuất cho truyền hình Trung Quốc.
 Trên mạng cũng có một video lập lòe ghi từ truyền hình Việt Nam.

Anh Khai cũng được scan bản nhạc của tác phẩm này.

Ý chủ yếu của lời ca này là các chữ "chung" với nghĩa "cùng có với nhau" [Từ điển tiếng Việt (Nxb Đà Nẵng, 2007)].  Đối với nhân loại thì quả đất này là của chung.  Toàn thể nhân loại cũng "tắm cùng một dòng."  Đối với hai nước, hai dân tộc thì của chung là một điều rất phức tạp.  Chung biển, chung nước sông, chung tiếng gà gáy buổi sáng. Con gà ấy có phải của chung?  Liệu có một bên bắt và ăn con gà ấy thì sao?

Thực ra tôi thấy hình ảnh con gà đực trong lời ca này cũng lạ.  Có lẽ nó có ý nghĩa là tỏ ý đến một mối quan hệ mới mẻ.  Quan hệ Việt Trung mới đến lúc rạng đông.  Còn nữa tiếng gà gấy cũng tiêu biểu cho sự vui mừng.

Một điều chung nữa là lá cờ màu đỏ - hay nói một cách Trung Hoa hồng sắc  / 紅色.  Còn theo bài ca này hai nước cũng sẵn chia sự "vất vả, khó nguy" - họ giúp lẫn nhau.  Ý niệm chung cũng có nghĩa là hai nước không thể "rời bên nhau."

Chắc chắn ý khó chịu nhất hiện nay của bài ca này là "Chung một biển đông" vì hai nước đều muốn một biển đông riêng.

Trên mạng có người viết rằng "Ở miền bắc, vào khoảng thập niên 1960, học sinh buộc phải thuộc và hát bài hát này trước khi vào lớp."  Và người Hoa ở Việt Nam phải hát lâu hơn nữa.  Nhưng thú thật bài hát "Việt Nam - Trung Hoa" không dễ hát.  Tiết tấu và nốt ít khi lặp lại.  Và cấu trúc của giai điệu bài này không đều.

Có 8 ô nhịp từ đầu bài đến chữ "rạng đông" (câu 1)
Có thêm 6 ô nhịp đến chữ "cùng" (câu 2) - vậy tất cả đầu bài là 14 ô nhịp

Có 6 ô nhịp từ chữ "A! a!" đến chữ "lợi" (câu 3)
Có thêm 6 ô nhịp từ sự lập lại của "A! a!" đến chữ "Đông" (câu 4) - vậy tất cả đoạn cuối là 12 ô nhịp.

Trong video thứ nhất ở trên phát trên đài Trung Quốc, người dàn dựng đã làm giai điệu đầu được nghịch phách để làm cho bài hát này được dễ hát và dễ nghe hơn.  Theo nguyên bản của Đỗ Nhuận thì các nhịp mạnh là như sau:
Việt Nam Trung Hoa, Núi liền núi, sông liền sông, Chung một biển Đông
Nhưng trên đài Trung Quốc họ hát:
Việt Nam Trung Hoa, Núi liền núi, sông liền sông, Chung một biển Đông
Họ cũng cho thêm vài nhịp sau chữ "rạng đông" và "gáy cùng" để hai câu nhạc này được đều hơn. Nhưng hát theo nhịp phách khác và đều hơn là hát không đúng ý tác giả.  Và trên đài Trung Quốc họ  cũng hát theo một nhịp nhanh hơn ý tác giả - Đỗ Nhuận yêu cầu biểu diễn bài ca này với 88 nhịp một phút. Trên video thứ nhất họ hát 96 nhịp một phút.

Việt Nam Trung Hoa cũng chung một ngũ cung.  Như vậy tôi không nghe được một tính dân tộc riêng trong bài ca này.  Đỗ Nhuận yêu cầu khi hát bài hát này nên đệm theo một dàn nhạc dân tộc với đàn nhị, sáo, trống, xênh tiền.  Nhưng đàn nhị rất giống erhu / 二胡 / nhị hồ của Trung Quốc.

Dù quần chúng có hát bài "Việt Nam - Trung Hoa" tôi nghĩ rằng đây là một bài ca trước hết có nhiệm vụ ngoại giáo và nên có người chuyên nghiệp là nhân viên của nhà nước hát bài hát này. Hơn hết, bài ca này tựa vào "thù chung" được viết đến trong lời thứ hai mà hình như không ai hát nữa.

3 tháng 6, 2013

cách mạng - theo China in 10 Words (Trung Quốc viết thành 10 lời) của Yu Hua / Dư Hoa

Yu Hua / Dư Hoa (余华), China in Ten Words (十个词汇里的中国) theo lời dịch sang tiếng Anh của Allen H. Barr (Pantheon, 2011).

"After 1949, when the Communist Party came to power, it steadily maintained its commitment to carry out revolution to the fullest.  At that point, of course, revolution no longer meant armed struggle so much as a series of political movements, each hot on the heels of the one before, reaching ultimate extremes during the Great Leap Forward and the Cultural Revolution. ...but upon entering a market economy the Party did not stop the revolution - the revolution continued in a different form:  ...within China's success story one can see both revolutionary movements reminiscent of the Great Leap Forward and revolutionary violence that recalls the Cultural Revolution." (tr. 113-4)

Sau 1949, thời Đảng Cộng Sản mới nắm chính quyền, họ vững vàng giữ lời tự hứa để thực hiện cuộc cách mạng đến cùng.  Lúc bấy giờ một cuộc không còn có nghĩa là đấu tranh bằng vũ khí mà thành như một đợt phong trào chính trị, từng cái theo gót cái trước, đến đỉnh cực độ thời Đại Nhảy Vọt và Cách Mạng Văn Hóa... song lúc nhập vào kinh tế thị trường thì Đảng không ngừng làm cách mạng - cuộc cách mạnh tiếp tục bằng một hình thức khác: ... với câu chuyện Trung Quốc thành công ta có thể xem cả phong trào cách mạng mà gợi lại cuộc Đại Nhảy Vọt và bạo lực cách mạng làm ta nhớ lại cuộc Cách Mạng Văn Hóa.

"What is revolution? The answers I have learned take many forms.  Revolution fills life with unknowables and one's fate can take an entirely different course overnight; some people soar high in the blink of an eye, and other just as quickly stumble into the deepest pit.  In revolution the social ties that bind one person to another are formed and broken unpredictably, and today's brother-in-arms may become tomorrow's class enemy." (tr. 136-7)

Cách mạng là cái gì?  Các câu trả lời theo tôi học gồm nhiều hình thức.  Cuộc cách mạng làm cho đời bị đầy nhiều thứ không đoán trước và sự mệnh của mình có thể theo lối hoàn toàn khác trong chốc lát; có những người bay cao vụt trong chớp mắt, và những kẻ khác gấp ngã vào hồ sâu thẳm nhất.  Thời cách mạng các mối quan hệ mà ràng buộc người với người được hình thành rồi bị tan vỡ không thể dự báo được, còn các đồng bào mình có thể thành kẻ thù giai cấp.


Ông Dư Hoa cũng viết đến tình trạng gọi là 山寨 / shan zhai / sơn trại (copycat).  Người ta viết: "sơn trại không hẳn hàng nhái hoàn toàn mà chỉ là copy 99% + 1% sáng tạo, có đặc điểm giá thành thấp, mang tính bình dân, phù hợp với đại đa số người dân lao động nghèo khó" (nguồn: "Hiện tượng "sơn trại" ở Trung Quốc," Tuổi Trẻ 2 tháng 9 2013)

"It seems to me that the emergence--and the unstoppable momentum--of the copycat phenomenon is an inevitable consequence of this lopsided development.  The ubiquity and sharpness of social contradictions have provoked a confusion in people's value systems and worldview, thus giving birth to the copycat effect, when all kinds of social emotions accumulate over time and find only limited channels of release, transmuted constantly into seemingly farcical acts of rebellion that have certain anti-authoritarian, anti-mainstream, and anti-monopoly elements. (tr. 189)

Theo tôi nghĩ thì dường như sự hiện ra--và sự tăng cường lên không thể ngăn ngừa được--của hiện tượng sơn trại là kết quả không thể nào tránh của việc phát triển chênh lệch này.  Sự có mặt thường xuyên và nét sắc rõ của các mẫu thuận xã hội đã kích thích những cảm tưởng lộn xộn trong tiêu chuẩn đánh giá và thế giới quan của con người, vậy gây nảy sinh cái tác dụng sơn trại lúc mà các loài cảm giác xã hội chung tích lũy qua thời gian mà chỉ được thấy những lối giải thoát có hạn chế bị biến đổi thường xuyên thành những hành động nổi loạn lố bịch mà có các yếu tố phản quyền lực, phản quy ước đại đông, và phản độc quyền gì đó.            

2 tháng 3, 2013

Phim mầu - Đấu tranh cho hòa bình và hữu nghị


Ciros

Hôm nay: Phim mầu
Đấu tranh cho
Hòa bình và hữu nghị
Nói tiếng Việt-Nam

nguồn ảnh: Rufus Phillips Collection, Vietnam Center and Archive.

Hồi xưa rạp xi-nê Ciros ở góc hai phố Hàng Bài và Hai Bà Trưng.  Trước khi trở thành một rạp xi-nê thì Ciros cũng là một vũ trường với ban nhạc của người Bạch Nga tên là Milevitch (милэвитч).  Chắc đó là khoảng năm 1944 gì đó.  Nguyễn Thiện Tơ, Xuân Lôi và Xuân Tiên đã từng làm việc với ban nhạc ấy, và cũng có sự tham gia của những vũ nữ người Thượng Hải.

Mười năm sau thì Hà Nội đổi đời.  Hà Nội vào một giai đoạn đấu tranh cho hòa bình như tên phim ở trên.  Trên bảng cũng có chữ - "nói tiếng Việt-Nam" nghĩa là có lồng tiếng Việt cho một phim từ nước ngoài vào.  Thường lệ là một phim Liên Xô, nhưng cũng có phim Trung Quốc và Đông Âu.

Điều nổi bật là chân dung của ba vị lãnh đạo trước cửa rạp hát.  Có Gyorgy Malenkov (Гео́ргий Маленко́в), Mao Trạch Đông (毛澤東), và Hồ Chí Minh, tuy nhiên chân dung của lãnh đạo Trung Quốc được ở vị trí chính và được to hơn hai lãnh đạo Liên Xô và Việt Nam.

23 tháng 1, 2013

Tuần lễ fim Trung Quốc (Chinese Film Week) - Vũ Minh (1955)

biển rạp xi-nê: Tuần Lễ Fim Trung Quốc
theatre sign: Chinese Film Week

Quang cảnh vui tươi của Thủ-đô kỷ niệm I năm giải phóng.  Một buổi tan chiều phim trong tuần lễ phim Trung Quốc được nhân dân rất ưa chuộng trước rạp Hồng Hà.

A lively spectacle of the Capitol for its first anniversary of liberation.  The letting out of the afternoon film during Chinese Film Week was very well-liked by the people in front of the Red River Theatre.

Ảnh Điện ảnh Vũ-Minh -- Bản kẽm Tô-Mỹ
Movie Pictures, Vũ Minh -- cliché, Tô Mỹ

nguồn: Thời mới 14 tháng 10 1955, 1


Hiện nay rạp Hồng Hà là Nhà hát Tuồng Việt Nam.  Tôi đã vào rạp ấy năm 1993 để xem hát chèo.


nguồn ảnh: blog Báo mạng điện tử K28 (13 tháng 3 2010)

Ngày xưa rạp Hồng Hà được gọi là Ciné Olympia.  Ngày 13 tháng 9 1938 nhóm Myosotis biểu diễn ở đây.  Đặng Thế Phong đã hát trên sân khấu rạp này.

nguồn: Flickr manhhai's photostream

10 tháng 10 1955 là ngày kỷ niệm Hà Nội được giải phóng một năm.  Dân Hà Nội mừng ngày kỷ niệm ấy với một tuần lễ xem phim Trung Quốc. Vì chưa được xem phim Trung Quốc nào của giai đoạn ấy tôi không biết các phim này có hay hay không. Nhưng làm một chương trình như thế phải có ý nghĩa chính trị và ngoại giao.

22 tháng 9, 2010

... sinh trong một gia đình nhà nho nghèo, yêu nước...

Tôi mới bắt đầu đọc Hồi ký Trần Huy Liệu (Nxb Khoa học Xã hội, 1991). Câu đầu của "Lời giới thiệu" ở trên. Hình như các nhà cách mạng đều xuất thân từ nhà nho nghèo yêu nước. Ông đã nghèo thật. Thủa ông 13, 14 tuổi gia đình ông thiếu gạo phải ăn cám với ra má (tr. 21). Theo thích nhận xét của ông viết năm 1950 ở Việt Bắc sau đây:

Về phần tôi trong những ngày nghèo khổ cực nhục ấy, Nho giáo mà trực tiếp là cho tôi đã vũ trang cho tôi một tinh thần và cũng là một hy vọng. Quan điểm này không dễ dãi tầm thường theo kiểu "bỉ cực thái lai" mà bằng một lý tưởng tự phụ là trời đã định trao trách nhiệm lớn lao cho người nào thì trước hết phải bắt người đó chịu đủ những khó khăn nguy hiểm để rèn tâm luyện chí, đợi ngày gánh vác việc đời. Các ông trời đây nằm ở trong các nhà nho, nhưng về thực tế nghèo khổ đã làm cho người ta cứng rắn lên. Rồi từ chỗ tự phụ tôi đi đến tự kiêu. Thêm vào đấy những loại sách Tam quốc, Thủy hử, Đông Chu liệt quốc... bấy giờ đã nuôi cho tôi một ý nghĩ cũng như một số thanh niên hồi ấy, tự cho mình là những bậc hơn đời mà chưa gặp thời. (tr. 23)

For my part, during those days of wretched hardship and poverty, Confucianism directly fortified for me a spirit and an aspiration. This outlook was not facile or a commonplace model of "after the rain comes the sun" but was came through a pretention that when the heavens had assigned great responsibilities to somebody, they had made sure that that person suffered hardships and dangers in order to forge their determination as they awaited the shouldering of life's burdens. Gods of this kind reposed in Confucian scholars, but in reality poverty and hardship just made them obdurate. So from pretention I went to being self-important. Add to this books like Three Kingdoms, The Water-Margin, Eastern Zhou Kingdoms... back then they nurtured for me a thought similar to a few other youths of those days that I was at a higher level than my circumstances and my time had not yet arrived.

16 tháng 1, 2010

Văn nghệ trong báo Công nhân Giải phóng số 275, 5-6-1981

Trong tranh Có hình dạng một chàng trai làm việc là như đi khai hoang. Có một cây chết đang được nhổ bật rễ. Ba gốc có tên: "Thanh Thúy," "disco," và "hồn hoang." Cây này được chặt bằng rìu với tên "ca khúc chính trị." Tranh này cũng có hai nấm (có vẻ như nấm độc) với tên "Phạm Duy hải ngoại" và "Hồn ma trinh nữ."

Tôi đâu có biết rằng riêng đáng sợ như thế, nhưng người ta có nói rằng Thanh Thúy có giọng hát liêu trai. Disco thì khác hẳn như chắc là tiêu biểu cho văn hóa độc của Mỹ. Tôi không rõ Hồn Hoang thế nào - một câu chuyện? Lâu năm Phạm Duy đã bị coi như là cái kim trong bụng. Hồn Ma Trinh Nữ có phải là chuyện Tàu, kiểu Liêu Trai?

[Mới đây (22/3/2010) có một bạn nặc danh giải thích rằng Hồn Hoang là một chương trình băng nhạc pop rock ngoại quốc sản xuất ở Sài Gòn trước 1975].


Trang báo này cũng có nhiều mục thú vị khác. Trong trang này cũng có một đoàn "hóm hỉnh" như sau:


Thuốc

Con: -- Bố ơi, con đọc suốt cuốn truyện võ hiệp Tàu này sao không thấy các nhân vật ăn cơm, chỉ đánh nhu lu bù hà.

Bố: -- Ừ, họ không ăn vì chẳng có thằng cha nào lao động sản xuất hết.

Con: -- Thế họ có dùng thuốc gì không mà khỏi ăn hở bố?

Bố: -- Có chứ. Tác giả dùng thuốc phiện!

Medicine

Son: -- Hey dad, I've read all these Chinese martial arts story. Why don't any of the characters eat and just drunkenly beat each other?

Father: -- Ah, they don't eat because none of those fools does any productive labor.

Son: -- So do they use some kind of medicine so that they don't have to eat?

Father: -- Oh course. The author uses opium.

báo Công nhân Giải phóng số 275, 5-6-1981.

Ca khúc chính trị là công cụ khai hoang. Nhìn cụ thể thì hoang có được khai một chút - Phạm Duy không còn ở hải ngoại. Hình như ít người còn nghe Thanh Thúy (nhưng tôi cho rằng mọi người rất nên nghe Thanh Thúy). Disco thì được áp dụng trong những ca khúc chính trị. Nhưng nay chuyện kiểu Hồn Ma Trinh Nữ thì có đủ.

12 tháng 11, 2009

Tam quốc

Mới đây tôi đọc xong chuyện Tam quốc trong bản dịch tiếng Anh dài gần 1000 trang. Lúc tôi còn ở Hà Nội tháng 6 vừa rồi tôi phỏng vấn nhạc sĩ Văn Ký. Ông kể rằng thanh niên lứa tuổi ông thời thanh niên rất mê đọc chuyện Tam quốc và chuyện có gây ảnh hưởng lớn trong văn nghệ những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp.

Cách đây mười năm tôi dịch bài ca "Chiến sĩ Việt Nam" nhưng đến câu này tôi không hiểu nổi:

Mong xác trong da ngựa bọc thân thể trai

Bây giờ mới hiểu. Trong bản dịch Three Kingdoms:

A man worthy of the name, who takes his sustenance in the service of his lord, considers it a boon to die on the battlefield, to be sent home wrapped in horsehide.

Trong Tam quốc người ta không chiến đấu vì dân tộc, vì tổ quốc nhưng lại chiến đấu vì gia tộc - service of his lord. Nhiệm vụ chính của một người đàn ông xứng đáng là chết trên trận chiến. Như Văn Cao viết:

Là trang nam nhi. / Quyết chiến sa trường. / Sống thác coi thường.

Quả là lãng mạn. Trong Tam Quốc thì các chiến dịch có mấy vạn người tham gia, nhưng các người bộ đội không giải quyết cái gì và bị chết liên miên nữa. Các chiến dịch được giải quyết vì những vị tướng phi ngựa "vung gươm." Văn Cao rằng:

Bao chiến sĩ anh hùng. / Lạnh lùng vung gươm ra sa trường.

Tam quốc có vô số nhân vật và các tên Trung Quốc nhìn rất giống nhau -- lắm lần tôi thấy rất khó phận biệt ai là ai. Nhưng tất nhiên có một số nhân vật nổi bật. Ba nhân vật Lưu Bị, Quan Vân Trường và Trương Phi đều thú vị. Ba người vừa dũng cảm, vừa tình cảm.



Lưu Bị "thương dân, lấy dân làm gốc" nghe rất tư tưởng Mao Trạch Đông. Lưu Bị cũng được sự mến mộ của những người có tài. Quan Vũ sau khi chết thì càng hay vì một con ma còn thành hiển thánh. Trương Phi thì nóng tính và khó điều khiển nhưng rất trung nghĩa.

Nhưng có lẽ nhân vật nổi bật nhất trong chuyện này là Khổng Minh.



Khổng Minh giỏi thật là hiểu biết tâm lý con người và thấu hiểu khí của mỗi tình hình. Khổng Minh luôn luôn làm việc đúng lúc, hiểu trước chiến lược của địch. Khổng Minh do áp dụng đến địa lý và khí hậu được thắng - thắng như là một cuộc chơi. Và Khổng Minh tự điều khiển cảm xúc của mình. Khổng Minh không phải là kiểu người "vung gươm." Phải coi Khổng Minh như một nhà trí thức, một nhà trí thức thanh bạch. Chẳng lẽ ông Giáp muốn chịu ảnh hưởng của Khổng Minh?

Tôi nghĩ rằng Tam quốc rất có chất chủ nghĩa cá nhân. Các vị tướng thi đua nhau "sống thác coi thường." Dù có hàng triệu người tham gia các cuộc chiến chỉ có tham vọng của vài chục người gây ra mọi sự kiện trong sách này.