Hiển thị các bài đăng có nhãn tác phẩm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tác phẩm. Hiển thị tất cả bài đăng
20 tháng 11, 2014
"Cô hái mơ" - Jason Gibbs phổ thơ Nguyễn Bính (1934)
Lâu lắm mới có một tác phẩm ra lò. Trong những tháng gần đây tôi phổ thơ "Cô hái mơ" của Nguyễn Bính theo bản 1934 được in trên trang tạp chí Phong Hóa. Đang tiếc là hiện nay tôi không có phương tiện ghi nốt bằng máy, vậy tôi cứ chép bằng tay.
19 tháng 5, 2012
Bóng nhỏ đường chiều (A Small Shadow on the Afternoon Road) - Trúc Phương (1962)
Ai biết ai vì đời cùng ngược xuôi chung lối mòn
.
Who knows someone who in life together had reversals on the well-worn path they share.
Ngày tôi hai mươi tuổi em đôi tám trăng tròn , đêm lạnh còn chăn đơn gối lẻ chưa buồn khi canh vắng khép đôi mi .
When I turned twenty you were only sweet sixteen, on cold nights, separate blankets, unmatched pillows, not yet sadly burning the midnight oil as we closed our eyes
Cho đến hơn một lần tuổi trẻ như qua mất rồi .
Until more than once it seemed like youth had come and gone.
Ngày tim lên tiếng gọi xui tôi mến một người .
One day my heart cried out urging my fondness for someone.
Tâm tình chiều nao trên phố nhỏ khi về lưu luyến mãi phút hẹn hò .
Affections I felt on any evening on the little lane home stirred up by those minutes of rendezvous
Bao thương nhớ từ độ anh vui bước quân hành , nửa năm anh viết lá thư xanh bảo rằng : sẽ về phố phường .
With so much love and longing, since I happily left to be mobilized, after half year I wrote a letter saying: I'm coming to the neighborhood.
Mừng rơi nước mắt ướt thư người tôi thương
In her joy, falling tears moistened the letter to the one I love
Tôi đến nơi hẹn hò đường chiều nghiêng nghiêng nắng đổ.
I came to our place of rendezvous, the afternoon road, slanting rays of sunlight streamed down.
Bàn tay thon ngón nhỏ đan tay rắn sông hồ , ta nhẹ dìu nhau như tiếng thở .
A delicate hand entwined with a hand roughened by experience, we guided each other, lightly like a breath
Thương này thương cho bõ lúc đợi chờ.
This love, loving made the wait worthwhile.
Nguồn: "Bóng nhỏ đường chiều," (Sài Gòn: [Tác giả], 1962) in lại trong Ai Cho Tôi Tình Yêu: 43 Tình Khúc Trúc Phương (Westminster, CA: Hồng Lĩnh, 1992).
Ban nhạc xưa của tôi là Apes of God mới được xuất bản một đĩa CD cuối cùng. Trên đĩa đó có bài "Bóng nhỏ đường chiều" của Trúc Phương do tôi dàn dựng cho nhạc hòa tấu. Myles Boisen chơi đàn ghi ta, Mark Schifferle chơi ghi bát xơ, John Hanes đánh trống, và tôi chơi đàn Synthesizer.
Ca từ Trúc Phương vừa tuyệt vời, vừa khó dịch. Và cách làm giai điệu cũng rất hợp với từng chữ. Trong nền tân nhạc Việt Nam bao nhiêu nhạc sĩ bỏ qua các chữ dấu hỏi, dấu ngã? Nhưng Trúc Phương phổ cách chữ dấu hỏi như "tuổi," "trẻ," "nhỏ," hay "thở" một cách nghe rất tự nhiên.
Lâu năm rồi tôi rất thích nghe Giao Linh ca bài hát này trên băng Sơn Ca 6.
Trúc Phương mô tả những cảm giác thương yêu và nhớ nhung của cuộc tình còn non, nhưng rất đậm đà và đầy ý nghĩa. Hai tình nhân mới gặp lại nhau sau một thời xa cách. Chụm lời "ta nhẹ dìu nhau như tiếng thở" luôn luôn gây ấn tượng mạnh vẽ những cảm giác đẹp nhất trong một cuộc tình.
Who knows someone who in life together had reversals on the well-worn path they share.
Ngày tôi hai mươi tuổi em đôi tám trăng tròn , đêm lạnh còn chăn đơn gối lẻ chưa buồn khi canh vắng khép đôi mi .
When I turned twenty you were only sweet sixteen, on cold nights, separate blankets, unmatched pillows, not yet sadly burning the midnight oil as we closed our eyes
Cho đến hơn một lần tuổi trẻ như qua mất rồi .
Until more than once it seemed like youth had come and gone.
Ngày tim lên tiếng gọi xui tôi mến một người .
One day my heart cried out urging my fondness for someone.
Tâm tình chiều nao trên phố nhỏ khi về lưu luyến mãi phút hẹn hò .
Affections I felt on any evening on the little lane home stirred up by those minutes of rendezvous
Bao thương nhớ từ độ anh vui bước quân hành , nửa năm anh viết lá thư xanh bảo rằng : sẽ về phố phường .
With so much love and longing, since I happily left to be mobilized, after half year I wrote a letter saying: I'm coming to the neighborhood.
Mừng rơi nước mắt ướt thư người tôi thương
In her joy, falling tears moistened the letter to the one I love
Tôi đến nơi hẹn hò đường chiều nghiêng nghiêng nắng đổ.
I came to our place of rendezvous, the afternoon road, slanting rays of sunlight streamed down.
Bàn tay thon ngón nhỏ đan tay rắn sông hồ , ta nhẹ dìu nhau như tiếng thở .
A delicate hand entwined with a hand roughened by experience, we guided each other, lightly like a breath
Thương này thương cho bõ lúc đợi chờ.
This love, loving made the wait worthwhile.
Nguồn: "Bóng nhỏ đường chiều," (Sài Gòn: [Tác giả], 1962) in lại trong Ai Cho Tôi Tình Yêu: 43 Tình Khúc Trúc Phương (Westminster, CA: Hồng Lĩnh, 1992).
Ban nhạc xưa của tôi là Apes of God mới được xuất bản một đĩa CD cuối cùng. Trên đĩa đó có bài "Bóng nhỏ đường chiều" của Trúc Phương do tôi dàn dựng cho nhạc hòa tấu. Myles Boisen chơi đàn ghi ta, Mark Schifferle chơi ghi bát xơ, John Hanes đánh trống, và tôi chơi đàn Synthesizer.
Ca từ Trúc Phương vừa tuyệt vời, vừa khó dịch. Và cách làm giai điệu cũng rất hợp với từng chữ. Trong nền tân nhạc Việt Nam bao nhiêu nhạc sĩ bỏ qua các chữ dấu hỏi, dấu ngã? Nhưng Trúc Phương phổ cách chữ dấu hỏi như "tuổi," "trẻ," "nhỏ," hay "thở" một cách nghe rất tự nhiên.
Lâu năm rồi tôi rất thích nghe Giao Linh ca bài hát này trên băng Sơn Ca 6.
Trúc Phương mô tả những cảm giác thương yêu và nhớ nhung của cuộc tình còn non, nhưng rất đậm đà và đầy ý nghĩa. Hai tình nhân mới gặp lại nhau sau một thời xa cách. Chụm lời "ta nhẹ dìu nhau như tiếng thở" luôn luôn gây ấn tượng mạnh vẽ những cảm giác đẹp nhất trong một cuộc tình.
4 tháng 5, 2012
I Am My Own Pet (Tôi là vật cưng của chính tôi) - Apes of God (2000?)
Ngày vừa rồi tôi dự một bữa tiệc mừng đĩa mới của ban nhạc xưa tôi mới được sản xuất. Trong đây có mấy tác phẩm của tôi sáng tác hơn 10 năm trước đây. Bạn tôi soạn lời qua đời đã hai rồi, và đĩa này đã gần thực hiện xong lúc ông bạn này qua đời. Thực ra tôi không bằng lòng lắm với đĩa mới này (và điều này gây mẫu thuận làm tôi không tham gia ban nhạc này nữa).
Tôi quen tôi chép các nốt nền cho "I Am My Own Pet" từ bao giờ - có lẽ từ năm 1996 gì đó. Bây giờ thì tác phẩm ấy mới được phổ biên. Chính hai websites Amazon và Itunes cho bán tác phẩm này, nhưng tôi đề nghị đừng mua. Đây không phải là bản phối của tôi.
Dưới đây là bản phối của tôi thực hiện với Gilbert Marhoefer (thơ và giọng nói), Jason Gibbs (nhạc và đàn synthesizer), Myles Boisen (ghi ta), Mark Schifferli (ghi ta bát xơ), and John Haines (bộ trống).
Hay download ở đây.
Tôi quen tôi chép các nốt nền cho "I Am My Own Pet" từ bao giờ - có lẽ từ năm 1996 gì đó. Bây giờ thì tác phẩm ấy mới được phổ biên. Chính hai websites Amazon và Itunes cho bán tác phẩm này, nhưng tôi đề nghị đừng mua. Đây không phải là bản phối của tôi.
Dưới đây là bản phối của tôi thực hiện với Gilbert Marhoefer (thơ và giọng nói), Jason Gibbs (nhạc và đàn synthesizer), Myles Boisen (ghi ta), Mark Schifferli (ghi ta bát xơ), and John Haines (bộ trống).
Hay download ở đây.
1 tháng 1, 2011
Music in American Life: The Good Life - Jason Gibbs (1989)
Tạm dịch là "Âm nhạc trong đời sống Mỹ: Cái đời sống hay", đây là một tác phẩm của tôi sáng chế năm 1989. Tác phẩm này được tôi biểu diễn lần duy nhất là mùa hè năm ấy tại một chỗ gọi là Sonic Temple (Miếu Âm Thanh) tức là Masonic Temple (Miếu Hội Tam điểm) ở Wilkinsburg, Pennsylvania.

Masonic Temple, 747 South Avenue, Wilkinsburg, PA
Đây nhất định không phải là nhạc phổ thông. Phải nói đây là nhạc cũng khó nghe và dài dòng (34 phút 42 giây). Tôi sáng chế nhạc nền trong một băng gồm âm thanh điện tử, đài phát thanh và vật dụng âm thanh (sound effects), rồi tôi thổi kèn bassoon ứng tác ở trên.
20 tháng 8, 2010
The Sound Of Harmonious Music (produced by a loudspeaker in the corner of the room made their stories still more pleasant)
Tiếng nhạc êm ái (phát do một loa ở góc phòng làm cho các câu chuyện được càng thích thú) - Jason Gibbs (1995)
Tôi sáng tạo tác phẩm kéo dài 24 phút 32 giây này theo một mẫu [sample] 6 nhịp thu trên đài phát thanh. Tôi quan niệm rằng mỗi âm thanh có ẩn thực chất ở trong. Quá trình sáng tác của tôi là thể hiện thực chất đó. Tác phẩm có 3 rãnh ghi dành cho flute, 5 rãnh dành cho bassoon, 2 rãnh dành cho clarinet và nhiều âm thanh điện tử.
Tác phẩm này là nhạc nền cho một bài thơ tên là "Transpositional Landscapes" (Các chuyển vị phòng cảnh) do Gilbert Marhoefer soạn cho ban nhạc The Apes of God, Elisa Salasin diễn xướng. Đĩa này được xuất bản năm 2002 cùng với một phim.

"Transpositional Landscapes" được remix (phối lại) do nhà sản xuất tên là Gavin Hardkiss. Remix trong trường hợp có ý nghĩa là biến đổi cũng nhiều. Sau đây là một bản remix với một đoạn của phim ấy.
Amazon vẫn cho bán đĩa này. Và Emusic bán "Transpositional Landscapes" download.
Một điều buồn là nhà thơ và bạn tôi Gilbert Marhoefer đã qua đời 17 tháng 4 năm này.
Tôi sáng tạo tác phẩm kéo dài 24 phút 32 giây này theo một mẫu [sample] 6 nhịp thu trên đài phát thanh. Tôi quan niệm rằng mỗi âm thanh có ẩn thực chất ở trong. Quá trình sáng tác của tôi là thể hiện thực chất đó. Tác phẩm có 3 rãnh ghi dành cho flute, 5 rãnh dành cho bassoon, 2 rãnh dành cho clarinet và nhiều âm thanh điện tử.
Tác phẩm này là nhạc nền cho một bài thơ tên là "Transpositional Landscapes" (Các chuyển vị phòng cảnh) do Gilbert Marhoefer soạn cho ban nhạc The Apes of God, Elisa Salasin diễn xướng. Đĩa này được xuất bản năm 2002 cùng với một phim.

"Transpositional Landscapes" được remix (phối lại) do nhà sản xuất tên là Gavin Hardkiss. Remix trong trường hợp có ý nghĩa là biến đổi cũng nhiều. Sau đây là một bản remix với một đoạn của phim ấy.
Amazon vẫn cho bán đĩa này. Và Emusic bán "Transpositional Landscapes" download.
Một điều buồn là nhà thơ và bạn tôi Gilbert Marhoefer đã qua đời 17 tháng 4 năm này.
21 tháng 7, 2009
có một thuở tôi sáng tác

Một blog tên là No Longer Forgotten Music (Âm nhạc không còn bị lãng quên) có post một chương trình âm nhạc tôi tham gia cách đây hơn 10 năm. Oracular Editions xuất bản một băng cát xét chủ đề "spoken word" có thể tạm dịch như "nói thơ" "nói độc thoại"? Tôi có hợp tác với một nhà thơ tôi cho là xuất sắc tên là Robert Gregory.
Tôi làm nhạc nền cho hai bài "I Met My Baby At The Puppet Show" (Tôi gặp em yêu ở chương trình múa rối) và "The Outdoor Girls In The Air" (Các cô ngoài trời trên không).
Rất tiếc rằng người cho chương trình này lên mạng bị nhầm về tên một số bài trên băng. Bài số 3 thực sự là "I Met My Baby At The Puppet Show" chứ phải "The Outdoor Girls In The Air" và bài số 4 thực sự là "The Outdoor Girls In The Air" chứ phải là "What's Is - Exposition Eats."
Oracular Editions # 1 này có một điều thú vị nữa là một tác phẩm của Philip Blackburn cũng là một người Mỹ có đến Việt Nam năm 1993 và có thực hiện một đĩa nhạc rất xuất sắc chủ đề Stilling Time.
Băng này gồm những tác phẩm tiền phong, khó hiểu và khó nghe.
28 tháng 5, 2009
Rock Hà Nội Rumba Cửu Long: Câu chuyện âm nhạc Việt Nam

Xin báo cáo cho các bạn đọc ở hải ngoại rằng sách của tôi (Nguyễn Trương Quý dịch) -- Rock Hà Nội Rumba Cửu Long: Câu chuyên âm nhạc Việt Nam (Nxb Tri Thức, 2008) -- được phân phối do Nhà Sách Tự Lực ở Westminster, California. Họ làm e-commerce theo điạ chỉ Tự Lực Mall.
23 tháng 5, 2009
Taste My Jazz
- Cách đây 20 năm tôi có hợp tác với một bạn tên là Steve Knopoff thực hiện một tác phẩm tên là "Culture in the Airwaves" (Văn hóa trên làn sóng). Tác phẩm này kéo dài đến gần 3 tiếng đồng hồ và được biểu diễn trên làn sóng của đài WRCT ở Pittsburgh ngày 13 tháng 12 năm 1998.
-
Một tiết mục của buổi biểu diễn này là một bài tên là "Taste My Jazz" (Hãy thưởng thức nốt jazz của tôi) với sự hợp tác của một người bạn khác là nhà thơ Gilbert Marhoefer. Gilbert đọc một bài thơ theo phong cách "beat" (như Jack Kerouac hay Allen Ginsberg) còn Steve và tôi chơi nhạc ứng tác.
Gilbert có viết một câu chuyện hài hước về nhân vật của bài thơ này.
4 tháng 1, 2009
Kết nạp ban đầu với các bí mật rừng
Preliminary Initiation to the Secrets of the Forest (Kết nạp ban đầu với các bí mật rừng) là một tác phẩm nhạc điện tử tôi soạn năm 1986. Nhạc phẩm này làm theo phong cách gọi là musique concrète (âm nhạc cụ thể) - nhạc gốc từ âm thanh ghi lại rồi sắp xếp lại.Âm thanh của nhạc phẩm là toàn nhạc Việt. Năm 1985 tôi đã mua một băng cát xét của một nhạc sĩ người Việt hải ngoại tên là Trung Nghĩa với chủ đề Nhạc khiêu vũ. Hồi đó tôi chẳng biết cái gì về nhạc này - nghe chỉ thấy quen quen lại lạ lạ. Bây giờ có thể nói rằng nhạc trên băng này gốm toàn những bài ca phổ biến ở Sài Gòn trước 1975 làm phong cách nhạc không lời phối khí cho sàn nhảy.
Nguồn âm thanh là một đĩa nhạc kiểu "dân tộc nhạc học" (ethnomusicology) của Steve Addiss sản xuất cho công ty Folkways với tên gọi Folk Songs of Vietnam (Dân ca Việt Nam). Phạm Duy là người sưu tập đĩa này. Nhưng lúc bấy giờ tôi chưa biết Phạm Duy là ai và chưa được biết gì về nhạc Việt. Đối với tôi đây thật sự là một loại nhạc cụ thể.
Dù các nguồn âm thanh đều là nhạc Việt, nhưng kết quả là các loại nhạc "tân" và "cổ" pha thanh với nhau cũng nghe xa lạ hơn. Chắc mục đích của tôi (cái "tôi" cách đây hơn 20 năm) là gây ra một không khí bí hiểm.
Nhạc truyền thống của đĩa ấy thật sự là nhạc cải biên rồi - và nhạc mới dù làm với các nhạc cụ phương Tây cũng có cái chất châu Á. Còn nữa - tôi tự hỏi có phải nhạc khiêu vũ Việt Nam là một loại nhạc truyền thống mới?
Mời các bạn đón nghe ở đây - tại www.archive.org
Jason Gibbs - 18 tháng 8 2007
3 tháng 12, 2008
Song tấu và đối thoại thời đại Mantovani

Năm 1989 tôi sáng tác một tác phẩm nhạc điện tử với tên Duet and Dialogue in the Age of Mantovani. Tên gọi này nhại tên một công trình nghiên cứu âm nhạc học là Duet and Dialogue in the Age of Monteverdi. Claudio Monteverdi là một trong những nhạc sĩ sáng tác gây ảnh hưởng lớn nhất trong truyền thống nhạc cổ điện Tây Phương đã rất nổi sáng tác nhiều tác phẩm kiểu madrigal. Ông cũng là người tiền phong về nghệ thuật opera sáng tác vở nhạc kịch Orfeo cách đây 400 năm.
"Song tấu và đối thoại" ở đây nói đến phong cách biểu diễn opera trong nhạc kịch của Monteverdi. Tác phẩm của tôi đâu có gì liên quan đến opera. Tên Mantovani thật là Annunzio Paolo Mantovani là một nhạc trưởng thế kỷ 20. Như Monteverdi, ông cũng là một người Ý. Mantovani được do dàn nhạc nhẹ của ông và phong cách thu thanh của dàn nhạc ấy. Mantovani lấy nhiều tác phẩm phổ thống thành nhạc không lời. Vai trò dàn dây kéo biểu diễn với kỷ thuật vang lại rất đặc biệt.
Tác phẩm lấy làm nguồn âm thanh của một đài phát chơi toàn nhạc gọi là "easy listening" (nhạc dễ nghe). Easy listening là các bài ca quen thuộc được nhẹ hóa thành nhạc không lời. Tôi cho âm thanh trên một tape loop (vòng băng điện tử) chạy qua ba máy ghi âm. Tôi cũng sử dụng đến nhiều tiếng vọng như ông Mantovani. Khi đang thực hiện tôi không biết trước âm thanh nào sẽ vào máy thu vậy Tôi tách phẩm này cũng có tính tình cờ. Tôi đã làm cho các kênh âm thanh được to và nhỏ hơn theo cảm hứng mình thành một tác phẩm kéo dài đến 25 phút. Đây là một kỷ thuật sáng tác ít ai sử dụng đến bây giờ.
Chúc mọi người thưởng thức tác phẩm của tôi tại link này ở Archive.org.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)


