Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn Cao. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn Cao. Hiển thị tất cả bài đăng

12 tháng 6, 2025

trích Censorship in Vietnam của Thomas A. Bass (2017)

The author writes of artists participating in the Nhân Văn Giai Phẩm affair, ca. 1956-1958.
One of these artists was Van Cao, who, in 1945, composed Vietnam’s national anthem. From 1957 to 1986, people were in the peculiar position of being allowed to play but not sing Van Cao’s anthem. Only when the words were changed was the song once again performed. Van Cao himself stopped composing long ago, thereby joining the ranks of Vietnamese artists–hundreds of them, from the 1950s to the present–who have been driven into silence or exile. (page 10)
Một trong những nghệ sĩ này là Văn Cao, người mà năm 1945 đã sáng tác bài Quốc Ca Việt Nam. Từ 1957 đến 1986, dân bị cho và thế cá biệt là được đàn mà không hát quốc ca của Văn Cao. Chỉ từ khi lời ca được thay đổi thì ca khúc này được tiếp tục biểu diễn. Chính Văn Cao đã ngừng sáng tác từ lâu rồi, bằng cách ấy nhập hàng ngũ các nghệ sĩ--có hằng trăm như thế, từ thập 1950 đến nay--mà bị đuổi vào sự im lặng hay bị đày.
nguồn: Bass, Thomas A. Censorship in Vietnam: Brave New World (Amherst, MA: University of Massachusetts Press, 2017).

There are many inaccuracies here. Văn Cao's "Tiến quân ca" was written in 1944, not 1945. The lyrics were altered a bit around 1954, but they were never forbidden to be sung. Yes - the government sponsored a contest to find a replacement for Văn Cao's anthem, but they decided to keep it after all. Văn Cao did not stop composing after 1958. In fact, his a few of his new works were even published in the state media as early as 1971.

Censorship in Vietnam has driven creative people into silence or exile, it's true. But a book claiming this should be accurate in its account.

19 tháng 8, 2023

Chiến sĩ Việt Nam (Vietnam's Warriors) - Văn Cao (1945)

nhịp đi

Bao chiến sĩ anh hùng
So many heroic warriors
Lạnh lùng vung gươm ra sa trường
In the cold, brandishing swords, entering the battlefield
Quân xung phong nước Nam đang chờ mong tay ngươi
Assaulting army, the Southern land awaits your esteemed hands
Hồn sông núi khí thiêng ghi muôn đời.
The soul of rivers and mountains, sacred resolve inscribed thousand lifetimes.

Ngựa phi nơi xa kia nghe súng vang bên trời điệu kèn rộn ràng.
Horses gallop afar, hear the gunshots echo against the sky and the lively trumpet call
Là trang nam nhi
You're a fighting man
Quyết chiến sa trường
Determined to fight on the battlefield
Sống thác coi thường
Heedless of life or death
Mong xác trong da ngực bọc thân thể trai
Awaiting a corpse wrapped in horseshide, the man's body
Bừng nghe dư âm mênh mông khúc anh hùng ca reo nơi biên cương
Rising up, the reverberation of the heroic anthem, shouted from the frontier

Bao chiến mã lên đường
So many warhorses take to the road
Giục lòng dân quân thi can trường
Stirring the people's army to test its mettle
Nguyền tranh đấu cho giống nòi
Swearing an oath to our race.
Hận thù bao năm căm lòng đất nước tan tác.
So many year's rancor, the grudge of a country driven to ruin

Xương máu đang khơi ngòi
Blood and bones are increasing
Tiếng than nơi nơi
Sounds of grieving everywhere
Tháng năm dần trôi
Year and months slowly pass.
Thề phục quốc. 
Swear an oath to restore sovereignty
Tiến lên Việt Nam!
Move up Vietnam!
Lập quyền dân. 
Establish the people's power
Tiến lên Việt Nam!
Move up Vietnam!
Ðài hạnh phúc đắp xây tự do.
A monument to happiness, building up freedom.
Việt Nam tranh đấu chống quân ngoại xâm. 
Vietnam fights, resisting the foreign, invading army.

nguồn: Làng Tôi: Tập bài hát của Văn Cao (Hà Nội: Nhà xuất bản Văn hóa, 1975).


Bích Thuận ca "Chiến sĩ Việt Nam."

28 tháng 8, 2015

Cung đàn xưa (Lute of Old) - Văn Cao (1943)

Valse moderato

Hồn cầm phong sương hình dáng xuân tàn.
The lute's spirit of wind and fog formed at spring's end.
Ngày dần buông trôi sầu vắng cung đàn.
Days gradually cast off their melancholy absence.
Từ người ra đi chờ vắng tin người,
Since she left there's been no news of her
Từ người ra đi là hết mơ rồi!
Since she left I've run out of dreams!

Cung thương là tiếng đàn,
The D string is the lute's sound
Cung nam là tiếng người.
The southern mode is her voice
Ai oán khúc ca cầm châu rơi,
Aggrieved, the music of the singer and lute, rod striking drum
Tình duyên lãng đãng nhớ thương dần pha phôi.
Love's ties are unsteady, full of longing then gradually wither and fade.

Cung đàn ngân buồn xa vắng trong tiếng thầm,
The lute's music sadly resonates far and wide in a concealed whisper
Buồn tê tái trong tiếng ngân,
Plaintive in its vibration
Buồn như lúc xuân sắp tàn!
Sad like when spring is about to end!

Ơi đàn xưa!
Oh lute of old!
Còn vang nhắc chi tới người lòng ta tắt bao thắm tươi u hoài duyên đưa.
You still ring out, recall her, our heart's warmth quells, longing once brought by love's grace

Chiều năm xưa gót hài khai hoa mắt huyền lưu xuân dáng hồng thơm hương.
A long ago afternoon the heel of those dainty boots broke out in bloom, those deep black eyes held on to spring in the form of a fragrant rose.
Chiều năm nay bóng người khơi thương tiếng đàn gieo oan giấc mộng chàng Trương.
A long ago afternoon someone's image engendered love, the lute's sound cast groundless blame on fisherman Trương's dreams.

Giờ còn mong chi người hát theo đàn,
Now what hope is there of she who sang with the lute,
Giờ còn mong chi hợp cánh hoa tàn.
Now what hope is there to join with the fading flower
Lời đàn năm xưa se kết đôi lòng.
The lute's utterance long ago spun together two hearts.
Lời đàn năm nay đôi lứa xa vời.
The lute's words of today; a devoted couple far apart
Khi hôn hoàng xuống dần
As twilight slowly falls,
Trăng lên vàng mái lầu.
The moon ascends, golden, over the palace.
Nghe thoáng tiếng kinh cầu xa xa.
I hear faint sounds of prayer a little way off.
Ngàn lau thấp thoáng bóng kinh kỳ sầu bao la.
Through the woods and reeds, the capital's shadows flicker with vast sadness.

nguồn: Thiên Thai: Tuyển tập nhạc Văn Cao, Nxb Trẻ, 1988.

Tôi tiếc rằng tôi chưa tìm được bản nhạc "Cung đàn xưa" của Tinh Hoa xuất bản năm 1955.  Văn bản sớm nhất mà tôi được sưu tầm được in trong tập nhạc Thai Thai năm 1988 - một năm trước khi Cục Văn Hóa và Múa cấp phép "Cung đàn xưa" được phổ biến ngày 15 tháng 10 1989 (xem báo Thanh Niên 12 tháng 11 1989).

Lý do tôi muốn kiểm tra bản nhạc xưa của "Cung đàn xưa" là các ca sĩ thời Việt Nam Cộng Hòa và thời tiền Việt Nam Cộng Hòa hát bài ca này rất khác với nốt nhạc của các tập nhạc sau.  Tôi nghĩ rằng phải coi văn bản trong tập nhạc Thiên Thai (và trong tập nhạc Ca khúc Văn Cao, Nxb Âm Nhạc, 1994) như là văn bản chính thức.  Vậy phải coi như các ca sĩ như Mộc Lan, Thái Thanh, Anh Ngọc, Mai Hương, Thanh Lan rồi gần đây hơn Ánh Tuyết không hát đúng ý Văn Cao.

Có lẽ họ hát khác vì họ học theo những nốt nhạc khác?  Hay họ hát chuyển miệng?  (Phạm Duy là người có vai trò lớn về việc phổ biến nhạc Văn Cao.  Có lẽ mỗi người hát theo kiểu Phạm Duy hồi xưa?  Mộc Lan thu "Cung đàn xưa" trong đĩa Philips trước khi Tinh Hoa xuất bản bài hát này).

Một lý do nữa là việc hát bài "Cung đàn xưa" theo đúng nốt nhạc của Văn Cao không dễ.  Bài này đòi một giọng ca có âm vực rộng - một quảng tám thêm quảng sáu trưởng.  Tuy thế mà hát đúng nốt như trong tập nhạc ấy thì giai điệu của Văn Cao được phù hợp với hòa âm nhiều hơn.  Trong những năm 1950 Mộc Lan thu bài hát này với một giọng ca trong trẻo, nhưng có những nốt trong giai điệu nghe không ổn với bản hòa âm.

Trần Thái Hòa hát "Cung đàn xưa" rất chuẩn:


"Cung" là nốt nhạc, là âm thanh.  Chính xác là nốt nhạc, âm thanh của một đàn gẩy của nhạc cổ Việt Nam hay Trung Quốc.  Phải chăng chữ "đàn" cũng có thể được hiểu như là đàn ghi ta, đàn măng-đô-lin của tân nhạc ("Cung đàn xưa" là một tác phẩm tân nhạc, và phản ánh tâm tính của người hiện đại)?

Xưa là một từ không chính xác.  Ngày xưa xa xôi có nghĩa là cách đây nhiều thế kỷ? Hay ngày xưa thuộc vào quá khứ của người kể?  Vì bài ca này phụ thuộc vào những sự kiện xây ra trong đời sống tình cảm của tác giả thì ý nghĩa thứ hai chắc đúng hơn.  Nhưng nếu hiểu "xưa" theo chung hai ý nghĩa thì cuộc tình này cũng có chất huyền thoại (đừng quên "giấc mộng chàng Trương.")

Nội dung "Cung đàn xưa" thuộc về việc pha phôi, tàn, xuống dần, xa vời.  Nhưng mặt khác là cung đàn ấy khi ngân cũng là cội nguồn của các cái ở trên.  Tiếng đàn còn kêu, tình yêu hiển lên rồi mất dần.

Giống như đại đa số các ca khúc thời nhạc cải cách (và đa số ca khúc Việt đến bây giờ) thì "Cung đàn xưa" thiếu các dấu khó chép theo nhạc tây phương là dấu hỏi và dấu ngã.  "Cung đàn xưa" không có từ dấu hỏi nào cả.  Và chỉ có chữ dấu ngã là "lãng đãng" - "ở trại thái di động chậm chạp, nhẹ nhàng, khi ẩn khi hiện, khi gần khi xa, mờ mờ ảo ảo" (Từ điển Tiếng Việt, Trung Tâm Từ Điển Học, 2007).  Nàng vắng, nhưng nàng lại xuất hiện trong âm thanh. Hai chữ dấu ngã phản ánh ý nghĩa ở trên (ngân ra, rồi pha dần) một cách rất thú vị.  Lúc còn dấu vết tình thương thì hiện, mất niềm tình thương ấy thì ẩn.  Nhìn mái lầu dưới trăng biết nàng vừa gần, vừa xa.  Bóng kinh kỳ cũng ẩn, cũng hiện.

Giai điệu của "Cung đàn xưa" đẹp.  Lời ca cũng đẹp.  Nhưng tôi nghĩ rằng lời ca và giai điệu không hợp với nhau.  Xúc cảm của nhịp điệu valse là nhẹ nhàng, vui vẻ.  Điệu valse có hợp với lời "Cung đàn xưa" về hai điều là điệu valse từng có chất "quý tộc," và cũng phản ánh sự hoài cổ.  Song lẽ giai điệu của "Cung đàn xưa" nên như thế nào?  Soạn một giai điệu như "Đêm tàn Bến Ngự" chắc không được.  Như vậy ta có một bài ca có nhiều nết thú vị, nhưng cũng khó thể hiện.

14 tháng 9, 2014

Đồng chí của tôi (Comrade of Mine) - Văn Cao (1956)

Người ta các đồng chí của tôi
Some people, comrades of mine
Treo tôi lên một cái cây
Hung me from a tree
Đợi một loạt đạn nổ
To await a burst of bullets
Tôi sẽ dẫy như một con nai con
I'll struggle like a fawn
Ở đầu sợi dây
At the end of a rope
Giống như một nữ đồng chí
Just like a woman comrade
Một anh hùng của Hà Tĩnh
A hero from Hà Tĩnh
Tôi sẽ phải kêu lên
I'll have to call out
Như mọi chiến sĩ bị địch bắn
Like each warriors the enemy shot
Đảng Lao động Việt Nam muôn năm
The Vietnamese Labor Party forever
Cho mọi người hiểu khi tôi chết
Let each person understand that when I died
Vẫn còn là một đảng viên
I was still a party member
Cho mọi người hiểu khi tôi chết
Let each person understand that when I died
Máu của tôi vẫn còn là máu của Việt Nam
My blood was still Vietnam's blood
Ở dưới gốc cây có các cụ già các bà mẹ đã nuôi cách mạng
Beneath this tree, elderly grandmothers and mothers who have supported the revolution
Các em nhỏ từ ba tuổi đứng nhìn tôi dẫy chết
Little kids, three years and older have stood and watched me struggle in death
Có mẹ tôi
There was my mother
Ba lần mang cơm đến nhà tù
Three times she brought rice to me in prison
Hãy quay mặt đi
Turn away
Cho các đồng chí bắn tôi
So my comrades can shoot me

Tôi sợ các cụ già không sống được
I'm afraid you old folks won't live
Bao năm nữa
Many more years
Để nhìn thấy xã hội chủ nghĩa
To see the socialism
Của chúng ta.
That's ours.
Chết đi mang theo hình đứa con
Dying with the photograph of your child
Bị bắn
Who was shot
Tôi sợ các em còn nhỏ quá
I'm afraid the young ones still too little
Sẽ nhớ đến bao giờ
Will remember this until
Đến bao giờ các em hết nhớ
Until a time when they run out of memory
Hình ảnh tôi bị treo trên cây
Of an image of me tied to tree
Bị bắn
Being shot
Hãy quay mặt đi
Turn away
Cho các đồng chí bắn tôi…
So my comrades can shoot me...
Nước mắt lúc này vì Đảng nhỏ xuống
These tears are for a Party that is lessened
Dòng máu lúc này vì Đảng nhỏ xuống
A track of tears for a Party that is lessened
Đảng Lao động Việt Nam muôn năm
Vietnamese Labor Party forever
Đảng Lao động…
Vietnamese Labor Party...

nguồn: Nguyễn Trọng Tạo, "Bài thơ về cải cách ruồng đất của Văn Cao"

"Sẽ nhớ đến bao giờ / Đến bao giờ ... hết nhớ."  Cuộc mà gọi là cải cách ruộng đất là một vết sẹo trên thân thể chung của người Việt không biết có bao giờ lành.  Yếu tố chính mà gây ra các chiến tranh là đất đai. Theo tôi nghĩ cuộc cải cách ruộng đất chỉ là một màn trong một cuộc nội chiến chưa đình chiến hẳn.  Người Việt đánh người Việt.  Những người bị đánh thì cẫm uất.

Tôi chỉ mới biết đến bài thơ này.  Mặc dù chưa được đăng một cách chính thức và đến bây giờ chưa được phổ biến rộng rãi, chắc một số ít người đã được biết đến bài thơ này lúc mà Văn Cao viết nó ra.  Nếu số ít người được biết đến bài thơ này, thì chắc chăn lãnh đạo văn nghệ lúc bấy giờ biết đến bài thờ này nữa.  Có lẽ chính bày thơ này đã gây vấn đề cho Văn Cao trong thời Nhân Văn Giai Phẩm.

Theo Đảng giống như theo Đạo.  Đảng viên cũng như người trong giáo đoàn phải tin cậy ở riêng một chân lý.  Chân lý ấy nằm ở đạo đức của mình (và thỉnh thoảng ở việc chống tội ác của người ngoài đảng / ngoài đạo).  Văn Cao và đàn bà mà bị tử hình ở trên chung một niềm tin chân lý.  Bài thơ này không nói là bà ấy bị lên án vì bằng chứng hay lý do nào, nhưng lý do chính chắc là lý lịch của bà ấy hay gia đình của bà ấy trong thời tiền khởi nghĩa.

Hình như với trường hợp này, bà ấy không thể đủ công với đảng để rửa tội của bà ấy, hay tội của gia đình bà ấy.  Vậy bà ấy bị treo cây và tử hình trước mặt của con và mẹ của mình.  Bà ấy bị làm gương.

Điều chắc chăn là bà ấy đã cũng muốn mẹ và con của mình tin ở chân lý ấy.  Văn Cao là người ngoan đạo muốn tin ở chân lý ấy nữa.  Song cái gọi là chân lý cứ giết bà ấy.  Vậy chân lý ấy bị "nhỏ xuống."  Tuy vậy, hình như bà ấy và Văn Cao chưa hết niềm tin.  Bà ấy nói (theo lời ghi của Văn Cao) "hãy quay mặt đi."  "Quay mặt" bởi mình thấy xấu hổ cho chân lý mình từng theo, chứ phải bởi mình thấy xấu hổ cho mình.  Điều đau xót nhất là mình vẫn còn niềm tin với đạo / đảng ấy.  "Cho mọi người hiểu khi tôi chết / Vẫn còn là một đảng viên."  Niềm tin vào chân lý ấy còn dù mình không còn.

17 tháng 1, 2014

Tiến quân ca (Advancing Army Song) - nhạc của Văn Cao; lời của Đỗ Hữu Ích (1946)


Đoàn quân Việt Nam đi, chung lòng cứu quốc
Bước chân dồn vang trên đường gập ghềnh xa
Cờ in máu chiến thắng mang hồn nước
Sùng đằng xa chen khúc quân hành ca
Đường vinh quang xây xác quân thù
Thắng gian lao, đoàn Việt lập chiến khu
Thề phanh thây uống máu quân thù. 
Tiến mau ra sa trường
Tiến lên! Cùng thét lên,
Chí trai là đây nơi ước nguyền. 

Đoàn quân Việt Nam đi, sao vàng phất phới 
Giắt giống quê hương qua nơi lầm than 
Cùng chung sức kiến thiết xây đời mới
Đứng đều lên gông xích ta đập tan
Dù thây tan, xương nát không sờn 
Gắng hy-sinh đời ta tươi thắm hơn. 
Từ bao lâu ta nuốt căm hờn 
Vũ trang đâu lên đường
Hỡi ai! Lòng chớ quên

Bắc Sơn cùng Đô-lương, Thái-nguyên.

nguồn: Sự Thật #33 29 tháng 4 1946, tr. 8-9.



Từ năm 1945 đến năm 1946 thì lời "Đoàn quân Việt Minh" thành "Đoàn quân Việt Nam."  Còn Đỗ Hữu Ích được đăng tên là người soạn lời ca.

12 tháng 10, 2013

Độc lập - số kỷ niệm Cách mạng tháng tám (1946)

nguồn: bìa báo Độc Lập 19 tháng 8 1946 (lưu trữ ở Thư Viện Quốc Gia Việt Nam)

Có vẽ như tên họa sĩ là "Văn." Như vậy tôi nghĩ rằng tranh ở trên là tác phẩm Văn Cao.  Ba người, trẻ và già, đầy xúc cảm hát từ trong vòng xích với cờ đỏ sao vàng ở đằng sau.

9 tháng 10, 2013

Nhà sách Nhân Loại [quảng cáo 1946]


nguồn: Độc Lập (24 tháng 4 1946), tr. 2

Nhà sách Nhân Loại
63, phố Phan-chu-Trinh -- Hà-nội
Đã phát hành:
Cách mạng tháng mười
của Xít-Ta-Lin
Gia: 5d.59
Sắp phát hành:
Trên đường cách mạng
của Voline in Ingolov
Đang in:
Thống chế Tito
của M. Pader
Ba-Le Công Xã
của Lénine
Già Hồ
của Văn-Cao


Trong danh sách này chỉ có một quyển chắc chăn đã được in là quyển Cách mạng tháng mười của ông Stalin.  Tôi không rõ về cái quyển "sắp phát hành."  Volin nổi tiếng vì theo lý thuyết vô chính phủ và bị đuổi khỏi Liên Xô.  Thống chế Tito chắc là dịch từ quyển Marshall Tito (London: F. Muller, Ltd., 1944) của Michael Padev.  Tito làm du kic̣h rất giỏi - người Việt năm 1946 học về Tito chắc rất có ích.

Tôi chú ý nhiều đến quyển "Gia Ho" của Văn Cao.  Họ bỏ dấu, nhưng tôi cứ tưởng là "Già Hồ" vì một câu trong bài ca "Ngày Mùa":
Nhớ công ơn Già Hồ, khi mùa vàng quê hương
Vì Văn Cao từng là một là sáng tạo đa tài thì không thể biết tác phẩm Già Hồ là như thế nào?  Ca khúc?  Bài thơ?  Chuyện ngắn?  Bài viết?  Một câu hỏi nữa - người ta nói "Già Hồ" trong trường hợp nào?  Tại sao không phải là cụ Hồ, bác Hồ?

8 tháng 10, 2013

Sắp có bán "Thiên Thai" của Văn Cao (1946)

Sắc có bán
-------------

"Thiên Thai"

của Văn Cao

Một nhạc phẩm đã làm sôi nổi Trung, Nam, Bắc -- đã được hoan nghênh tại Nữu-ước và Săng-phơ-răng-xít-cô.

Tác giả xuất bản

Thư từ và ngân phiếu gửi về ông

Nghiêm-Văn-Bình

Tổng phát hành nhà in Rạng Đông, 149 phố
Hàng Bông -- Hà-nội

nguồn: Độc Lập 23 tháng 4 1946, tr. 2


Có lẽ đây là lần đầu tiên "Thai Thiên" được xuất bản.  Không chỉ là xuất bản, nhưng tự xuất bản nữa.  Tác phẩm này được in tại cơ sở công ty của người bố vợ tương lai là Nhà in Rạng Đông của Nghiêm Xuân Huyến.  Không biết Nghiêm Văn Bình là người anh, hai người chú của Nghiêm Thúy Băng?  Trong thời gian ấy Văn Cao làm việc cho báo Độc Lập của Đảng Dân Chủ.

Văn Cao và Nghiêm Thúy Băng mới được lấy nhau trong vùng kháng chiến.  Như vậy, trong thời gian xuất bản bài ca "Thiên Thai" chắc hai người còn tìm hiểu nhau.  Theo bài báo của Hoàng Hà, "Cô tiểu thư một thời của nhạc sĩ Văn Cao" VnExpress (28 tháng 9 2010):
Bà Nghiêm Thúy Băng kể, năm 1945 khi báo Độc Lập ra công khai, nhạc sĩ Văn Cao xuất hiện và tới nhà in Rạng Đông, nơi mẹ của bà làm chủ, dể in tác phẩm. Ông là người trình bày báo Độc Lập, phụ trách trang Văn nghệ số mới ra. Lúc này, cô tiểu thư của nhà in Rạng Đông đứng ở tiệm sách nhỏ làm công việc nhận và giao hàng cho khách đến in. Vì thế hai người quen nhau.
Bài ca "Thiên Thai" được coi như một kiệt tác của tân nhạc Việt Nam thì miễn phải nói.  Tôi không bàn đến điều đó.  Nhưng tôi muốn đi sâu vào mục quảng cáo ở trên.  Đây là Văn Cao bước vào thị trường.  Trong mục quảng cáo ở trên Văn Cao tự lăng xê mình.  Ông sử dụng đến cơ quan của mình để tuyên bố việc xuất bản tác phẩm của mình.  Ông sử dụng đến công ty nhà dâu tương lai để in và làm cửa hàng bán và chia phôi tác phẩm của mình.

Việc "Thiên Thai" được "hoan nghênh" ở New York và San Francisco thì tôi chưa biết.  Tôi chưa thấy tư liệu chứng minh điều đó.  Làm sôi nổi các miền Nam, Trung, Bắc thì chắc chăn hơn.  Đi lưu diễn với gánh hát Charlot Miêu, Phạm Duy hát nhạc Văn Cao rất nhiều.  Có ai còn giữ được ấn phẩm này không?

4 tháng 10, 2013

Thiên Thai (Tiên Tai Mountain) - Văn Cao, Hoàng Thoại (1941)

Nhà xuất bản Tinh Hoa, 1952

Ảnh hưởng sông nước khúc Thiên Thai cổ trong khung cảnh huyền diệu của Đường Thi với hai truyện Thiên Thai và Đào Nguyên. Người sông Ngự đã lạc cảm xúc rồi.
Xuân Giáp Thân, Văn Cao

Influenced by the river waters from the olden piece "Tien Tai" midst the mythical setting of T'ang poetry from the two stories "Tien Tai" and "Peach Blossom Spring." The Ngự river person has become lost from the senses already.

Tiếng ai hát chiều nay vang lừng trên sóng.
Whose singing this evening resounds across the waves?
Nhớ Lưu Nguyễn ngày xưa lạc tới Đào Nguyên.
Remembering long ago when Lưu Thần and Nguyễn Triệu lost their way and went to Peach Blossom Spring?
Kìa đường lên tiên, kìa nguồn hương duyên theo gió tiếng đàn xao xuyến.
Over there the road ascends to the immortals, over there the source of fragrance and love that follows the wind-born tones of the haunting lute.
Phím tơ lưu luyến, mấy cung u huyền.
The lingering silk and frets, those mysterious, sad notes.
Mấy cung trìu mến như nước reo mạn thuyền.
Those dear notes are like the sound of a boat whistling through the water.
Âm ba thoáng rung cánh đào rơi
Waves of sound rush pass, vibrate, make the peach blossom petals fall
Nao nao bầu sương khói phủ quang trời.
Unsettled, a cloud of smoke and dew obscures the cloudless sky.
Lênh đênh dưới hoa chiếc thuyền lan.
Drifting beneath flowers, the little boat spreads.
Quê hương dần xa lấp núi ngàn,
Their homeland grows gradually more distant from these highest mountains
Bâng khuâng chèo khua nước ngọc tuyền.
The melancholy oars stir up the waters of the underworld.
Ai hát trên bờ Đào Nguyên.
Who's singing from the banks of the Peach Blossom Spring?

Thiên Thai, chốn đây hoa xuân chưa gặp bướm trần gian.
Tien Tai mountain, the place where spring flowers have never met butterflies of the mortal realm.
Có một mùa đào dòng ngày tháng chưa tàn quan một lần.
There was a peach season with a stream of days and months that never faded once.
Thiên tiên chúng em xin dâng hai chàng trái đào thơm.
We the immortal fairies of the mountain are pleased to present delicious peaches to you two young men.
Khúc Nghê Thường này đầu cung múa vui bầy tiên theo đàn.
Starting with the music "Rainbow Clothes" a flock of fairies dance happily to the lute.
Đèn soi trăng êm nhạc lắng tiếng quyên đây đó nỗi lòng mong nhớ.
With the moon for a lantern and soothing music, listen for the cuckoo's call bringing feelings of longing.
Này khúc Bồng Lai là cả một thiên thu trong tiếng đàn chơi vơi.
Now here's the piece "Peng Lai" - a thousand autumns can be heard in the sound of that fragile lute.

Đàn xui ai quên đời dương thế,
The lute makes one forget worldly life,
Đàn non tiên đàn khao khát cuộc tình duyên.
The lute of the tender fairies, the lute that thirsts for a predestined, eternal love.
Thiên Thai, ánh trăng xanh mơ tan thành suối trần gian.
Tien Tai mountain, the pale, dreamy moonlight disperses and becomes rivulets of the mortal world.
Ái ân thiên tiên em ngờ phút mê cuồng có một lần.
The mountain fairies' affection, who would suspect these moments of passion would happen just once.

Gió hắt trầm tiếng ca.
The lightly blowing wind drowns out the singing.
Tiếng phách dồn lắng xa.
The castenet's sounds blur together, dying away into the distance.
Nhắc chi ngày xưa đó đến se buồn lòng ta.
Why do we recall those days of old that wrung our hearts?
Đào Nguyên trước Lưu Nguyễn quên trần hoàn.
Peach Blossom Spring beheld by Lưu and Nguyễn who forgot this mortal world.
Cùng bầy tiên đàn ca bao năm.
Together with the flock of flying fairies, singing and music lasting for so many years.
Nhớ quê chiều nào xa khơi,
Missing home those afternoons so distant.
Chắc khùng đường về Tiên nữ ơi.
Probably there's no way back dear Fairy.
Gió hắt trầm tiếng ca.
The lightly blowing wind drowns out the singing.
Tiếng phách dồn lắng xa.
The castenet's sounds echo together, dying away into the distance.
Nhắc chi ngày xưa đó đến se buồn lòng ta.
How to recall those days of old that wrung our hearts?
Đào Nguyên trước Lưu Nguyễn khi trở về.
Peach Blossom Spring beheld by Lưu and Nguyễn before they returned.
Tìm Đào Nguyên, Đào Nguyên nơi nao?
Looking for Peach Blossom Spring, where could it be?
Những khi chiều tà trăng lên,
During those sunsets as the moon rises
Tiếng ca còn rền trên cõi tiên.
Songs still resound upward in the immortals' realm.


Lúc gặp bà đúng là ngày 4 tháng 10 năm 2005, nghệ sĩ Kim Ngọc kể cho tôi nghe một chuyện thú vị. Bà nói là bà đến Điện Biên Phủ năm 1954.  Theo yêu cầu của Tượng Võ Nguyên Giáp bà hát riêng cho ông và một số quân nhân nữa.  Đây là một thời rất căng thẳng chuẩn bị chiến lược và tinh thần trước khi vào trận.  Tượng Giáp yêu cầu Kim Ngọc hát hai bài ca của Văn Cao "Thiên Thai," và "Trương Chi."  Nghe các bài nhạc vàng này giúp ông và đồng đội ông được thư giãn trước trận đánh quyết định này.

Anh Ngọc, Kim Tước, Quỳnh Giao, và Mai Hương ca "Thiên Thai" trên sân khấu ở Texas năm 1992.

24 tháng 8, 2013

Bắc Sơn (Bắc Sơn) - Văn Cao (1945)

Kính tặng Chu-văn-Tấn con hùm sám Bắc Sơn
Respectfully dedicated to Chu Văn Tấn, grey tiger of Bắc Sơn.

Ôi còn đâu đây sắc chàm pha màu gió.
Oh where is the indigo, its colors cut by the wind.
Đau lòng bao năm sống lầm than đây đó.
Hearts pained for so many years living there in such misery.
Ai về châu xưa nhớ hồi máu thắm cây rừng.
Whoever returns to the district of years past would remember the blood, its deep color upon the forest trees.
Còn vang khe núi tiếng quân oai hùng.
There from the mountain's crevices the sounds of a majestic army still echo.

Lớp lớp chiến đấu Lạng Sơn tung bay cờ,
Wave after wave joined the battle at Lạng Sơn, casting the flag into the air
Rồi vùng đồi núi nhớ bao nhiêu hận thù,
Then hurrying from the hills remembering so much rancor
Dân quân du kích Cách mạng bùng mùa thu,
The Revolutionary partisans broke out in the autumn
Sao vương bóng cờ bay trên chiến khu.
Why then does the flag's shadow still linger upon the battle zone.

Bắc Sơn! Đây hố sâu mồ chôn.
Bắc Sơn! Here in deep caves are interred the graves
Rừng núi ngân tiếng hú căm hờn.
The hills, the mountains echo with the sounds of spiteful howls
Bắc Sơn! Khi bóng trăng mờ sương.
Bắc Sơn! When the moon's shadow is dimmed in the fog.
Bắc Sơn! không bóng người dưới thôn.
Bắc Sơn! There's not a soul left down in the village

Giặc Pháp tàn ác giày xéo,
The French invaders mercilessly trampled everything down
Từng xác ngập đất máu xương,
Each corpse floods the earth with blood and bones
Nhà đốt cầm giáo cầm súng,
Houses burnt, holding lances, holding guns
Dân quân vùng ra Sa Trường.
The people's army hastily ran out to the Battlefield

Bắc Sơn! Nơi đó sa trường xưa.
Bắc Sơn! That place is the battleground of old.
Bắc Sơn! Đây núi rừng chiến khu!
Bắc Sơn! Here is the mountain and jungle war zone.

Nghe rừng âm u tiếng ngàn ca nguồn sống.
In the gloomy forest, hear mountains sing of life's source
Nay toàn dân say gió lành bên khe suối.
Now the people are intoxicated by the wind, feel good fortune by the rivulet
Nhưng nhìn châu xưa bóng cờ mấy cánh sao vàng.
But look at the district of long ago, see the trace of a flag with folds of a golden star
Đồn cao vách đá nép mây huy hoàng.
Our cliffside post brilliantly lies in hiding

Toán chiến sĩ bước về châu xưa xây đồn,
The band of warriors step back to the district of long ago to build a post
Đoàn người Việt mới quyết hy sinh một lòng,
A new Vietnamese unit is determined to sacrifice with one heart,
Gươm dao chung sức phá xiềng cùng chặt gông,
With swords and knives our shared strength will break our shackles, cut off the cangue.
Bao thây đắp nền xây châu Bắc Sơn.
How many corpses build the foundation, construct a new Bắc Sơn district.


Trong Vietnam 1945: The Quest For Power (University of California Press, 1997) David Marr viết:
Units of Chu Van Tan's National Salvation Army, which had been depleted and dispersed by colonial sweeps in late 1944, moved quickly after the Japanese coup to seize several posts in Thai Nguyen province, then marched westward into Tuyen Quang.  Perhaps their most satisfying accomplishment, however, was to join with a unit of Vo Nguyen Giap's Propaganda and Liberation Army to take the Mo Nhai and Binh Gia posts in Bac Son, site of the late September 1940 abortive uprising, without firing a single shot. (tr. 206) 
Các đơn vị Cứu Quốc Quân của Chu Văn Tấn, mà đã từng bị làm suy yếu và giải tán do thực dân quét ra cuối năm 1944, hàng động mau lẹ sau vụ lật đổ của Nhật để chiếm một số đồn ở tỉnh Thái Nguyên, rồi hành quân phía Tây vào Tuyên Quang.  Song lẽ, chắc thành công thỏa mẫn nhất là khi hợp lực với một đơn vị của Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng Quân của Võ Nguyên Giáp để chiếm các đồn Mỏ Nhài và Bình Gia ở Bắc Sơn, là vị trí năm 1940 của cuộc khởi nghĩa bị phôi thai, mà không phải bắn súng.
Một nét đặc biệt của nhạc cải cách Việt Nam là việc bỏ các chữ dấu hỏi và dấu ngã trong lời ca - nhất là trong các bài hành khúc.  Bài "Bắc Sơn" chỉ có riêng chữ "sĩ" (chiến sĩ).  Đôi chữ "châu xưa" cũng xuất hiện nhiều.  Thật ra "châu" là một từ cũng xưa.  Việc xưa này được nhìn từ thời năm 1945.  Năm 1940 nhiều máu bị đổ rồi lúc Nhật lật đổ chính phủ Pháp quân lực Việt Nam được về Bắc Sơn để xây lên một tương lai vững bền hơn.

Lời ca của Văn Cao rất kịch tính, máu me đầm đìa - "máu thắm cây rừng," "hố sâu mồ chôn," "tiếng hú căm hờn," "tàn ác giày xéo," "ngập đất máu xương," lại "bao thây đắp nền xây châu Bắc Sơn."  Đầu bài "sống lầm than," cuối bài "chung sức phá xiềng cùng chặt gông."  Đây là do lời kêu gọi "quyết hi sinh một lòng."

"Bắc Sơn" được trình bày trên sân khấu Nhà hát Lớn ngày 6 tháng 4 1946 với vở kịch Bắc Sơn.
Bản nhạc "Bắc-sơn" một tác phẩm mới của Văn-cao, được ban âm nhạc Vệ-quốc-đoàn trình bầy một cách đích đáng.  Trong nhạc điệu còn với vẻ âm u của núi rừng Bắc-sơn.  Người ta cũng nhận thấy rằng bản Bắc-sơn, có phảng phất một ít hơi hương của bài Hải-quân Việt-Nam cũng cùng nhạc sĩ ấy. ("Đi xem kịch 'Bắc-sơn'," Độc Lập 7 tháng 4 1946, tr. 2).
Lời bình luận cùng thời là như thế.  Tôi không đồng ý với người bình luận cách đây 67 năm - tôi không nghe gì âm u trong giai điệu, nhưng thực ra tôi không biết về cách biểu diễn của Ban âm nhạc Vệ Quốc Đoàn ngày đó.  Tôi cũng không nghe thấy "hơi hương" của bài "Bài ca chiến sĩ hải quân" trong bài "Bắc Sơn."

Tôi thích cách hát không trang điểm của ca sĩ Lâm Xuân


hơn cách trau chuốt của Vũ Dậu, Đàm Ngọc, Tốp ca nữ Đài Tiếng Nói Việt Nam.


"Bắc Sơn" là một bài ca quần chúng vậy nên một cách tự nhiên và nhiệt tình.

20 tháng 5, 2013

Các bài hát của Văn Cao trước 1975 được phép phổ biên


nguồn: DANH MỤC CÁC BÀI HÁT TRƯỚC NĂM 1975 ĐƯỢC PHÉP PHỔ BIẾN PHẦN I - trên Trang Thông tin điện tử của Cục Nghệ thuật biểu diễn.

Nếu một bài ca được cấp phép phổ biên thì, theo lô-gích, cũng có ý nghĩa là bài ca ấy chưa được phép phổ biên trước ngày đó.  Vậy gần tất cả mọi công dân nước Việt Nam đã vi phạm pháp luật này từ năm 1954 đến 7 tháng 10 năm 2009 khi nào hát "Quốc ca" Việt Nam là "Tiến quân ca."  Tôi cũng không ngờ rằng bài ca "Ca ngợi Hồ Chủ Tịch" đã từng có vấn đề cũng phải đợi đến năm 2009 được cấp phép.  Song, nếu "Ca ngợi Hồ Chủ Tịch" được cấp phép, tại sao không cấp phép cho ba bài ca viết cùng một thời gian như "Làng tôi," "Tiến về Hà Nội" và "Ngày mùa"?  Chưa rõ tình hình của "Chiến sĩ Việt Nam," "Công nhân Việt Nam," và "Không quân Việt Nam" là như thế nào nữa?  Một điều chắc chăn là "Bến xuân" / "Đàn chim Việt" và "Thu cô liêu" còn bị cấm phổ biên.

9 tháng 9, 2010

"Mặc dù bận rất nhiều công việc, Bác Hồ đã xem xét và sửa chữa một cách cẩn thận bài Tiến quân ca'."

Mới đây (mồng 1 tháng 9 2010) có một bài báo rất lạ xuất bản trên báo Lao Động với đầu đề "Chủ tịch Hồ Chí Minh với bài Quốc ca Việt Nam." Trong bài báo này có nhiều thông tin về quốc ca Việt Nam mà tôi chưa được biết đến. Tôi thấy ngạc nhiên vì tôi có bỏ cũng nhiều sức để tìm hiểu về đề tài này.

Tác giả bài báo này mới tiết lộ những chi tiết như:

1) Hội nghị quốc dân đã có một ban tuyển chọn quốc ca.

2) Ban này trình lên ba bài ca để Chủ Tịch Hồ Chí Minh lửa chọn là "Cùng nhau đi hồng binh" (theo tác giả là bài của Đỗ Nhuận soạn), "Diệt phát xít" của Nguyễn Đình Thi và "Tiến quân ca" của Văn Cao.

3) Bài này cũng giải thích những lý lẽ tại sao Hồ Chí Minh chọn "Tiến quân ca" và không chọn hai bài khác.

4) Rồi Hồ Chí Minh có sửa chữa ca từ "Tiến quân ca" tại chỗ làm cho bài ca này được "chính xác hơn, đẹp hơn và đáp ứng yêu cầu của bài Quốc ca Việt Nam."

Tôi chưa hề thấy bằng chứng nào để chứng minh các điệu trên, và nếu có thì tôi rất muốn thấy những tư liệu ấy. Tác giả bài báo này có tựa bài viết này vào tư liệu là lời kể của hai nhạc sĩ Văn Cao và Lê Mây. Văn Cao thì đã qua đời (nhưng có viết về chuyện này), Lê Mây (tức Trần Huy Trân) thì sinh năm 1936 thì không thể nào là người trong cuộc.

Mới đây chính phủ Việt Nam có xuất bản Văn Kiện Đảng Toàn Tập - tôi phải thú nhận rằng tôi chưa có điều kiện trả bộ tư liệu này để xem có thông tin nào về quá trình chọn quốc ca Việt Nam. Nhưng tác giả bài báo cũng không trích dẫn thông tin nào từ tư liệu này.

Trần Huy Liệu có viết một bài hồi ký "Đi dự Quốc dân Đại hội ở Tân Trào," (Tập san Nghiên cứu Lịch sử 17 (tháng 8 1960)) không đề cập đến các chi tiết ở trên.

Theo Văn Cao thì đúng là Hồ Chí Minh chọn bài quốc ca - "Ngày 13 tháng tám năm 1945, Bác Hồ đã chọn bài "Tiến quân ca" làm quốc ca cho Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa" ("Cảm xúc về quốc ca," Nhân dân 16 tháng 8 1981, tr. 2).

Suốt thời kháng chiến chống Pháp quốc ca Việt Nam có giữ lời ca nguyên bản như "Thề phanh thây uống máu quân thù." Một tư liệu chứng minh điệu này là tập ca khúc Tiến quân ca: Gồm 6 bản nhạc chọn lựa (Nam Định: Hoà Bình, 1955) của Đoàn Thanh Niên Việt Thành phố Nam Định biên soạn năm 1955 - sách có số VV59.00647 ở Thư Viện Quốc Gia Việt Nam.

Những lời mới mà tác giả bài báo đã cho là của Hồ Chí Minh soạn lúc tháng 8 1945 mới được nhận là ca từ chính thức của Quốc ca Việt Nam vào năm 1956 - xem "Báo cáo của Bộ Tuyên Truyền về quốc kỳ, quốc ca, quốc huy," Nhân Dân 17 tháng 9, 1956. Văn Cao cũng có viết "Nhớ lại năm 1955 tôi cùng với đồng chí Tố Hữu sửa lại bài 'Tiếng quân ca'" ("Cảm xúc về quốc ca"). Là Văn Cao và Tố Hữu sửa chữa lời ca của Quốc ca, không phải Hồ Chí Minh. Và họ làm việc này năm 1955 chứ phải là năm 1945.

Về cuộc thi chọn quốc ca chưa được bằng chứng - người ta đề nghị "Diệt phát xít" cũng hợp lý. Bài ca này đã được phổ biến lúc bấy giờ - có lẽ phổ biến hơn "Tiến quân ca." Cả hai bài thuộc về sự kiện quan trọng của thời ấy - là sự cai trì của hai chính phủ Pháp và Nhật cả hai đều là phát xít. Như Văn Cao viết - ông sáng tác bài này để đáp yêu cầu soạn "một bài ca cho khoá quân chính kháng Nhật" ("Cảm xúc về quốc ca").

Bài thứ ba là "Cùng nhau đi hồng binh" thời Hội nghị được thì phổ biến rất ít. Lúc sớm nhất tôi có thấy tên bài ca này được đăng trên giấy tạp chí / sách / báo nào là trong bài viết của Đỗ Nhuận "Âm nhạc với cách mạng tháng tám và kết quả thắng lợi" (Văn Nghệ 15 (tháng 8 1958)). Nếu bạn đọc nào có biết đến thông tin nào về bài ca này được đăng sớm hơn, xin cho tôi biết.

Năm 1995 nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý có viết: "Còn hiện tượng 'Cùng nhau đi hồng binh' của Đinh Nhu, dẫu có được xác nhận là là đã ra đời từ năm 1930 và thành tư liệu lịch sử, nhưng thực tế thì đời sống của nói vào thời ấy còn ẩn khuất..." Rồi ông viết tiếp: "Nói thêm một chút về bài "Cùng nhau đi hồng binh": mãi đến năm 1957 khi Hội Nhạc sĩ Việt Nam ra đời..., thú thật trong giới nhạc sĩ chúng tôi hồi đó chưa có ai đã biết bài 'Cùng nhau đi hồng binh.' Một hôm anh Đỗ Nhuận - Tổng thư ký đến họp Ban Chấp hành mới thông báo: có một đồng chí cán bộ lão thành phát hiện với ngành nhạc trường hợp bài 'Cùng nhau đi hồng binh,' nói là của Vương Gia Khương (chứ không phải là Đinh Nhu như bây giờ) đã sáng tác trong thời gian ở tù." (xem "Đôi điều bàn luận," Âm nhạc số đặc biệt chào mừng Đại hội lần thứ 5 (1995), 46-7).

Tôi nghĩ rằng bài ca "Cùng nhau đi hồng binh" không thể có mặt tại Quốc dân đại hội tháng 8 1945. Nếu có bằng chứng nào khác trái với ý tôi thì tôi rất muốn biết.

Đời và sự nghiệp Hồ Chí Minh được vẻ vàng rồi. Vai trò lịch sử của bài "Tiến quân ca" cũng rất vẻ vàng. Tại sao ghép cả hai một cách không căn cứ?

23 tháng 6, 2010

Trương Chi (Trương Chi) - Văn Cao (1942)

Một chiều xưa trăng nước chưa thành thơ.
One afternoon long ago, before moonlit waters had been rendered into poetry,
Trầm trầm không gian mới rung thanh tơ.
Vibrations from the depths of space were set into motion on a silk string
Vương vất heo may hoa yến mong chờ.
In the languid northwest wind, expectant swallows and flowers.
Ôi tiếng cầm ca thu tới bao giờ
Oh, sounds of music and song, when will autumn arrive?
Lòng chiều bơ vơ lúc thu vừa sang.
Fore lorn heart of afternoon, when autumn had just arrived
Chập chờn đêm khuya thức ai phòng loan.
In flickering lights who was sleepless in the lady's chamber that midnight?
Một cánh chim rơi trong khúc nhạc vàng,
A bird on the wing came down during those golden musical strains,
Đây đó từng song the hé đợi đàn.
Here and there, each silk-curtained window, half-ajar, awaited the lute.
Tây hiên Mỵ Nương khi nghe tiếng ngân hò khoan mơ bóng con đò trôi.
At the west veranda, Mỵ Nương, upon hearing the mellifluous "heave-ho" resound from the ferry in the shadows,
Giai nhân cười nép trăng sáng lả ơi, lả ơi bên trời.
That beauty concealed a smile, the bright moon grew weak, so weak up in the heavens

Anh Trương Chi.
Trương Chi
Tiếng hát vọng ngàn xưa còn rung.
Your voice that has echoed for eons still rings
Anh thương nhớ
You're loved and missed
Oán trách cuộc từ ly não nùng.
We curse the sorrowful parting
Đò trăng cắm giữa sông vắng.
The moonlit ferry pushes through that empty river
Gió đưa câu ca về đâu?
Where has the wind carried the words you've sung?
Nhìn xuống đáy nước sông sâu,
Look to the bottom of the river's deep waters
Thuyền anh đã chìm đâu!
Where is your boat submerged!
Từng khúc nhạc xa vời,
With each distant piece of music,
Trong đêm khuya dìu dặt tiếng tơ rơi.
At midnight, slowly, rhythmically, sound tumbles down from strings of silk.
Sương thu vừa buông xuống bóng cây ven bờ xa, mờ xóa dòng sông.
The autumn fog just fallen upon the tree's shadow on the far riverbank, obscured the river's current
Ai qua bến giang đầu tha thiết,
Whoever passes the river docks feels touched
Nghe sông than mối tình Trương Chi.
Hears the river sigh for Trương Chi's love.
Dâng úa trăng khi về khuya, bao tiếng ca ru mùa thu.
The rising waters shade the moon yellow at midnight, so many songs lull autumn to sleep

Ngoài song mưa rơi trên bao cung đàn.
Outside that window the rain falls upon the lute's profusion of notes.
Còn nghe như ai nức nở và than.
It still sounds like someone's sob, someone's sigh
Trầm vút tiếng gió mưa cùng với tiếng nước róc rách ai có buồn chăng?
From below the wind and rain gust along with the gurgling waters, could it be someone's saddened?
Lòng bâng khuâng theo mưa đưa canh tàn,
A sorrowful heart comes with the rain, bringing the night watch's end,
Về phương xa ai nức nở và than
From afar it's like someone's sob, someone's sigh
Cùng với tiếng gió vương nhìn thấy ngàn nước lấp lánh in bóng đò xưa
Left behind together with the wind, see the vestiges of that ancient ferry in the shining waters

Đò ơi! Đêm nay dòng sông Thương dâng cao mà ai hát dưới trăng ngà.
Oh ferry! Tonight the Thương river has risen so high, but who is singing under that ivory moon?
Ngồi đây ta gõ ván thuyền ta ca trái đất còn riêng ta.
Sitting here tapping on the planks of the boat we sing, the world is ours alone.

Đàn đêm thâu.
The lute plays through the long night
Trách ai khinh nghèo quên nhau
Blaming those who look down on the poor forgetting each another
Đôi lứa bên giang đầu.
A happy couple at the river's beginning
Người ra đi.
One went and left
Với cuộc phân ly.
And with that separation
Đâu bóng thuyền Trương Chi?
Where's the trace of Trương Chi's boat?


Bài hát này nhắc đến một "khúc nhạc vàng." Tất nhiên đây là vàng 99 chứ phải là vàng vọt.

Ý bài ca này chủ yếu là về sức quyến rũ của ca nhạc. Ca nhạc ở đây là như ma lực. Nhạc nổi lên từ đầy sông và vang lên trong không gian. Nhạc thì huyền bí và đáng sợ vì có khả năng nhập vào hồn người nghe (Phạm Duy sẽ viết về điều này nhiều hơn). Như nhạc vàng, nhạc trong ca khúc này làm cho người nghe "thiếu quyết tâm." Nhưng tình yêu gần như không được nhắc đến trong ca khúc này - chữ "anh" xuất hiện một lần (anh Trương Chi) nhưng không có chữ em hay nàng nào trong ca khúc này. Toàn là âm nhạc hóa với thiên nhiên để gây cảm xúc.

Sự tích Trương Chi là một câu chuyện Việt Nam thuần túy nhưng chuyện này dù đẹp bao nhiêu cũng buồn bấy nhiêu với những chữ "từ ly não nùng," "nức nở và than," và "lòng bâng khuâng." Lý lịch của chàng Trương Chi thì tốt, nhưng cô Mỵ Nương thì phải là kẻ phong kiến bóc lột dân thường. Ý tôi muốn nói là cho đề tài này thành bài ca thì kết quả nhất định là nhạc vàng theo đúng ý nghĩa từ ấy. Cục Văn Hóa chính thức cho phép hát lại bài ca này từ ngày 15 tháng 10 năm 1989.

Tôi rất thích nghe Châu Kỳ hát bài này trên đĩa Philips hai mặt 467 và 468 với ban Thần Kinh Nhạc Đoàn. Chỉ có một đàn piano đệm (có phải là Trần Văn Lý chơi?) với một ống sáo nghe như đệm ngâm thơ. Nhưng bản ghi âm không có mặt trên mạng.

Hình ảnh của bài ca này rất Huế (dù sông Thương nằm ở miền Bắc và cô Mỵ Nương chắc chắn là dân Kinh Bắc). Có tên hai bài bản Huế là Nam Thương, Nam Ai. Nghe cụm từ "ngồi đây ta gõ ván thuyền ta ca" thì dễ nhạc đến một buổi ca Huế. Như thế có lẽ sự tích Trương Chi là dịp để biểu lộ những cảm xúc tuyệt vời trên một dòng sông đêm khuya.

Anh Ngọc hát bài ca "Trương Chi" rất hay với bản phối của nhạc sĩ Hoàng Trọng.

28 tháng 4, 2010

Anh có nghe thấy không (Brother, Have You Heard?) - Văn Cao (1956)

(Gửi một nhà thơ xưa đã nổi tiếng)
(Sent to a poet who was famous long ago)


Cửa đóng lại từ chín giờ
The door has been shut since nine
Không một cuốn sách chờ đợi
Not a single book awaits
Dù những ngôi sao đang nở trên trời
Though stars blossom in the sky
Dù đêm mùa xuân bắt đầu trở lại
Though spring nights have begun to return

Tất cả hướng về biển
Everything looks out to the sea
Bọt cứ tan trên bãi cát xa
Foam still scatters on distant sands
Mà cửa bể vẫn im lìm chưa mở
And the seaport is still silent, not yet open

Bao giờ nghe được bản tình ca
When can we hear a love song
Bao giờ bình yên xem một tranh tĩnh vật
When can we calmly view a still-life
Bao giờ
When
Bao giờ chúng nó đi tất cả
When did these things go, all of them

Những con người không phải của chúng ta
Some people, not our own
Vẫn ngày ngày ngày ngang nhiên sống
Day after day still brazenly live

Chúng nó còn ở lại
These ones still remain
Trong những áo dài đen nham hiểm
In sinister long black tunics
Bẻ cổ bẻ chân đeo tội ác cho người
Bending at the collar, at the leg carrying people's crimes

Chúng nó còn ở lại
These ones still remain
Trong những tủ sách gia đình
On family bookcases
Ở điếu thuốc trên môi những em bé mười lăm
In the cigarettes of fifteen year old boys
Từng bước chân các cô gái
And each step of the girls
Từng con đường từng bãi cỏ từng bóng tối
On each road, each field, each dark shadow
Mắt quầng thâm còn nhỡ mãi đêm
Eyes with dark circles always remembering the night

Chúng nó còn ở lại
These ones still remain
Trong những tuổi bốn mươi
In men in their forties
Đang đi vào cuộc sống
Entering into life
Như nấm mọc trên những thân gỗ mục
Like mushrooms sprouting upon rotten logs

Người bán giấy cũ
Someone selling old paper
Đã hết những trang tiểu thuyết ế
Has run out of pages from unwanted novels
Những trang báo ngày xưa
Pages from newspapers long ago
Đang bán đến những trang sách mới
And is selling pages from new books
Những bài thơ mới nhất của anh
Your newest poetry.

Anh muốn giơ tay lên mặt trời
You wants to lift his hands to the sun
Để vui da mình hồng hồng sắc máu
To happily redden his skin to the color of blood
Mấy năm một điệu sáo
For some years a flute tune
Như giọng máy nước thâu đêm chảy
Has been like the voice of a fountain flowing through the long night

Chung quanh còn những người khôn ngoan
All around are wise men
Không có mồm
Without mouths
Mắt không bao giờ nhìn thẳng
Their eyes never look straight ahead

Những con mèo ngủ yên trên ghế
Cats sleep peacefully on the chair
Trong một cuộc dọn nhà
During a house cleaning

Những con sên chưa dám ló đầu ra
Snails haven't dared to show their heads
Những cây leo càng ngày càng, tốt lá
Vines, every day their leaves are stronger

Một nửa thế giới
Half the world
Một nửa tâm hồn
Half a soul
Một nửa thế kỷ
Half a century
Chưa khai thác xong
Have yet to be fully discovered

Bây giờ không còn những tiếng nổ to
Now there are no more loud explosions
Nhưng còn những tiếng rạn vỡ
But there's still the sound of crashing
Có thể thu hết những khẩu súng phản động
They can collect all the reactionary guns
Nhưng vẫn còn
But there are still
Những khẩu súng đưa người tự tử.
Guns leading people to suicide

Anh có nghe thấy không
Brother have you heard
Chỗ nào cũng có tiếng
Those places that also have sounds
Chưa nói lên
That haven't been said

Những người của chúng ta
Our people
Đang mờ mờ xuất hiện
Who are dimly appearing
Le lói hy vọng
In flickering hopes
Trên những cánh đồng lầy
On our muddy fields

Nghìn năm cũ phủ mất nhiều giá trị
A thousand olden years have covered over much of value
Đốt nghìn kinh chưa thắp sáng cuộc đời
Burned a thousand prayers that hadn't yet illuminated life

Vào một cuộc đấu tranh mới
Entering a new struggle
Với những người không phải của chúng ta
With some people who aren't of us
Anh có nghe thấy không
Brother have you heard

Vào một cuộc đấu tranh mới
Entering a new struggle
Để mở tung các cánh cửa sổ
To open wide each window wide
Mở tung các cửa bể
To open wide each port
Và tung ra hàng loạt hàng loạt
And fling open in succession
Những con người thật của chúng ta.
The truthful among us.

Bài thơ này được đăng trong Giai Phẩm mùa xuân 1956. Tôi thật sự chưa hiểu ý của bài thơ này. Sau đây là một số ý kiến lung tung linh tinh về bài thơ này.

Có loại người: "những người không phải của chúng ta" và có "những người thật của chúng ta." "Chúng nó còn ở lại / Trong những áo dài đen nham hiểm / Bẻ cổ bẻ chân đeo tội ác cho người." "Chúng nó" trông khá phong kiến với áo dài đen. Không biết "chúng nó" là những người tham gia chế độ thực dân? Những người đã bóc lột dân?

Nhưng "chúng nó" (con người cũ mặc áo dài đen) có cấm ai "nghe được bản tình ca" có cấm ai "xem một tranh tĩnh vật"? Hồi đó thì cơ chế văn hóa của nhà nước Việt Nam mới cấm các bản tình ca, các tranh tĩnh vật. Văn Cao đòi hỏi một kiểu nghệ thuật chủ nghĩa tân thời. Ông kêu về "nghìn năm cũ phủ mất nhiều giá trị."

"Cửa đóng" có lẽ là trách kết quả của hiệp định Genève? "Cửa bể chưa mở" - là những người như Văn Cao muốn tiếp xúc với nghệ thuật tân thời từ bốn phương trời. "Một nửa thế giới ... chưa khai thác xong." Hay có lẽ đối với Văn Cao một nửa thế giới ở đây có nghĩa là giới cộng sản - Văn Cao có biết đủ về giới tư sản và muốn được hiểu hết về giới cộng sản nhưng chưa được khai thác xong?

Lại "những người khôn ngoan / Không có mồm / Mắt không bao giờ nhìn thẳng" là ai? Là những người không di cư, phản cách mạng? Là cấp trên mà cấm tình ca, tranh tĩnh vật? Cấp trên và người mặc áo dài đen có giống nhau? Tôi thấy khó biết. Nhưng đây là một bài thơ của một người bất mẫn muốn "mở tung các cánh cửa sổ ... các cửa bể."

Có "Người bán giấy cũ" - là một nghề khá vô tư. Ông "đang bán đến những trang sách mới / những bài thơ mới nhất của anh." Ông chắc không màng gì đến văn chương nào - bán hết sách cũ thì lấy sách mới cũng được. Nhưng tình hình này cho biết rằng văn chương nói chung không được tôn trọng. Tôi không rõ "anh" ở đây là ai? Là một người đồng nghiệp, đồng tâm với tác giả. Là một người mà tác giả muốn thuyết phục? Là một người tác giả muốn chê trách? Chúng ta chỉ biết rằng người đó là "một nhà thơ xưa đã nổi tiếng." Trời ơi, Việt Nam có bao nhiêu nhà thơ xưa đã nổi tiếng. Nhưng ông bán giấy cũ có bán được một bài thơ mới của nhà thơ xưa này. Nghĩa là dù lỗi thời đi nữa nhà thơ này vẫn sáng tác.

16 tháng 4, 2010

Buồn tàn thu / Chinh Phụ khúc (Sadness at Autumn's Fading / Song of the Warrior's Wife") Văn Cao (1940)

Ai lướt đi ngoài sương gió,
Who's slipping past out in the dew and wind,
Không dừng chân đến em bẽ bàng.
But doesn't stop to see me, forelorn?
Ôi vừa thoáng nghe em mơ ngay bước chân chàng,
Oh, hearing this I dream of his footsteps,
Từ từ xa đường vắng.
Gradually more distant on the empty road.
Đêm mùa thu chết, nghe mùa đang rớt rơi theo lá vàng.
The autumn evening is dying, listen to it tumble down like golden leaves.

Em ngồi đan áo lòng buồn vương vấn, em thương nhớ chàng.
I sit knitting a shirt, my heart sad, obsessed, missing him.
Người ơi còn biết em nhớ mong,
Oh, do you know of my yearning?
Tình xưa còn đó xa xôi lòng.
The love of old is still there no matter distant from my heart.
Nhờ bóng chim uyên, nhờ gió đưa duyên, chim với gió bay về chàng quên hết lời thề.
We owed it to the lovebird's shadow, to love sent by the wind, yet the bird along with the wind has blown away and he has forgotten his vow.
Áo đan hết rồi, cố quên dáng người.
The shirt's completely finished, yet try to forget his shape.
Chàng ngày nào tìm đến?
When will he come to look for it?
Còn nhớ đêm xưa kề má say sưa, nhưng năm tháng qua dần, mùa thu chết bao lần.
Remembering that night long ago, ecstatic, cheek to cheek, yet the years have slowly slipped away, how many times has the autumn died?
Thôi tình em đấy,
No, my love here is
Như mùa thu chết rơi theo lá vàng.
Like the autumn dying, falling like autumn leaves

Nghe bước chân người sương gió,
Hear the footsteps out in the dew and wind,
Xa dần như tiếng thu đang tàn.
Growing distant like the sound of autumn's fading.
Ôi người gió sương em mơ thương ai bao lần,
Oh, who's out there in the dew and rain, who have I loved and dreamt of so many times?
Và chờ tin hồng đến.
And awaited the arrival of some glad tiding.
Đêm mùa thu chết,
The autumn evening is dying,

Nghe mùa đang rớt rơi theo lá vàng.
Listen to it tumble down like golden leaves.
Em ngồi đan áo lòng buồn vương vấn, em thương nhớ chàng.
I sit knitting a shirt, my heart sad, obsessed, missing him.
Người ơi còn biết em nhớ mong,
Oh, do you know of my expectant yearning?
Tình xưa còn đó xa xôi lòng.
The love of old is still there however far I am from your heart.
Nhờ bóng chim uyên, nhờ gió đưa duyên, chim với gió bay về chàng quên hết lời thề.
We owed it to the lovebird's shadow, to love sent by the wind, yet the bird along with the wind has blown away and he has forgotten his promise.


Nhờ tiểu đề bài ca này (Chinh Phụ khúc) thì người "em" này đang đợi một người chiến sĩ. Ở lớp con gái tôi đang học về tục ngữ "April showers bring May flowers" - mưa bão tháng tư đem về hoa tháng năm. Nghĩa là phải trải qua một thời mưa gió mới được hưởng cái thơm cái đẹp. Người em này thì trải qua một thời đan áo - nhưng đan áo xong đi chẳng được hưởng gì. Chắc cái chí kiên nhẫn được coi là đủ lắm rồi, nhưng tất nhiên người em này than van một cách trầm lặng. Đan áo xong thì người em này có phép quên (cố quên dáng người) nhưng bị quá ảm ảnh do các "đêm xưa kề má say sưa." Bài ca teen hiện nay gọi tình yêu kiểu này là "cuồng điên vì yêu."

Tại sao nhiều khúc tình ca có một bên đợi mãi - đợi một người sẽ không về, một người không có ý về. Người đang đợi thì bị bẽ bàng, vương vẫn, thấy quá nhớ mong. Mùa thu chết bao lần có nghĩa là người em này đã già đi rồi. Nhưng chàng quên hết lời thề. Nghĩa là cứ nhớ mong là vô lý.

Trong ca từ thì có rất ít chi tiết cụ thể về "chàng." Theo tiểu đề là "Chinh phụ" nhưng trong bài ca thì chúng ta chỉ biết rằng chàng từ từ đi xa trên đường vắng. Là chiến sĩ thì đi trong trên đường đồng người đồng đội chứ? Vậy chàng này rất có thể là một kẻ giang hồ - đã quên hết lời thề mà. Một người chiến sĩ chỉ dành lời thề cho đất nước, phải không? Và người em này sẽ tha thứ, không cho mình phép cảm thấy than van nếu hiểu đến nhiệm vụ của chàng.



Thái Thanh hát "Buồn tàn thu" rất rõ chữ, rất đúng--một cách gần như ngâm thơ.



Tôi không biết nữ ca sĩ này là ai (có vẻ như một chương trình PBN hay Asia gì đó?). Giọng hát thì dễ chịu hơn Thái Thanh, nhưng ca sĩ "lướt đi" hơi nhiều. Phong cách phối khí thì hơi cổ điền tây phương.

13 tháng 11, 2009

Chiến sĩ Việt Nam (Vietnam's fighters) - Văn Cao (1945)

Bao chiến sĩ anh hùng.
So many heroic fighters
Lạnh lùng vung gươm ra sa trường.
Coldly brandish their swords entering the battlefield.
Quân xung phong, nước Nam đang chờ mong tay ngươi.
An assaulting army, the Southern land awaits their hands
Hồn sông núi khí thiêng ghi muôn đời.
The rivers' and mountains' soul, bravery is noted for a thousand lifetimes

Ngựa phi nơi xa kia nghe súng vang bên trời điệu kèn rộn ràng.
Horses galloping afar, listen over there to gunshots echo against the sky and the animated bugle call
Là trang nam nhi.
You're a fighting man.
Quyết chiến sa trường.
Determined to fight on the battlefield.
Sống thác coi thường.
Not caring whether you live or die.
Mong xác trong da ngựa bọc thân thể trai.
Awaiting a corpse wrapped in horse's hide, the young man's body

Bừng nghe dư âm mênh mông khúc anh hùng ca reo nơi biên cương,

Rising up, the vast echo of the heroic anthem, shouted from the frontier.
Bao chiến mã lên đường
So many warhorses take to the road
Giục lòng dân quân thi can trường
Stirring the people's army to test its mettle.
Nguyền tranh đấu cho giống nòi.
Swear an oath to the race.
Hận thù bao năm căm lòng đất nước tan tác
So many year's rancor, the grudge of a country driven to ruin

Xương máu đang khơi ngòi
Blood and bones are widening the canal
Tiếng than nơi nơi
The sound of grieving everywhere
Tháng năm đần trôi.
Year and months slowly pass.
Thề phục quốc.
Swear an oath to restore our sovereignty
Tiến lên Việt Nam!
Move up Vietnam!
Lập quyền dân
Establish the people's power
Tiến lên Việt Nam!
Move up Vietnam!
Đài hạnh phúc đắp xây tự do.
A monument to happiness, building up freedom.
Việt Nam tranh đấu chống quân ngoại xâm.
Vietnam fights, resisting the foreign, invading army

12 tháng 11, 2009

Tam quốc

Mới đây tôi đọc xong chuyện Tam quốc trong bản dịch tiếng Anh dài gần 1000 trang. Lúc tôi còn ở Hà Nội tháng 6 vừa rồi tôi phỏng vấn nhạc sĩ Văn Ký. Ông kể rằng thanh niên lứa tuổi ông thời thanh niên rất mê đọc chuyện Tam quốc và chuyện có gây ảnh hưởng lớn trong văn nghệ những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp.

Cách đây mười năm tôi dịch bài ca "Chiến sĩ Việt Nam" nhưng đến câu này tôi không hiểu nổi:

Mong xác trong da ngựa bọc thân thể trai

Bây giờ mới hiểu. Trong bản dịch Three Kingdoms:

A man worthy of the name, who takes his sustenance in the service of his lord, considers it a boon to die on the battlefield, to be sent home wrapped in horsehide.

Trong Tam quốc người ta không chiến đấu vì dân tộc, vì tổ quốc nhưng lại chiến đấu vì gia tộc - service of his lord. Nhiệm vụ chính của một người đàn ông xứng đáng là chết trên trận chiến. Như Văn Cao viết:

Là trang nam nhi. / Quyết chiến sa trường. / Sống thác coi thường.

Quả là lãng mạn. Trong Tam Quốc thì các chiến dịch có mấy vạn người tham gia, nhưng các người bộ đội không giải quyết cái gì và bị chết liên miên nữa. Các chiến dịch được giải quyết vì những vị tướng phi ngựa "vung gươm." Văn Cao rằng:

Bao chiến sĩ anh hùng. / Lạnh lùng vung gươm ra sa trường.

Tam quốc có vô số nhân vật và các tên Trung Quốc nhìn rất giống nhau -- lắm lần tôi thấy rất khó phận biệt ai là ai. Nhưng tất nhiên có một số nhân vật nổi bật. Ba nhân vật Lưu Bị, Quan Vân Trường và Trương Phi đều thú vị. Ba người vừa dũng cảm, vừa tình cảm.



Lưu Bị "thương dân, lấy dân làm gốc" nghe rất tư tưởng Mao Trạch Đông. Lưu Bị cũng được sự mến mộ của những người có tài. Quan Vũ sau khi chết thì càng hay vì một con ma còn thành hiển thánh. Trương Phi thì nóng tính và khó điều khiển nhưng rất trung nghĩa.

Nhưng có lẽ nhân vật nổi bật nhất trong chuyện này là Khổng Minh.



Khổng Minh giỏi thật là hiểu biết tâm lý con người và thấu hiểu khí của mỗi tình hình. Khổng Minh luôn luôn làm việc đúng lúc, hiểu trước chiến lược của địch. Khổng Minh do áp dụng đến địa lý và khí hậu được thắng - thắng như là một cuộc chơi. Và Khổng Minh tự điều khiển cảm xúc của mình. Khổng Minh không phải là kiểu người "vung gươm." Phải coi Khổng Minh như một nhà trí thức, một nhà trí thức thanh bạch. Chẳng lẽ ông Giáp muốn chịu ảnh hưởng của Khổng Minh?

Tôi nghĩ rằng Tam quốc rất có chất chủ nghĩa cá nhân. Các vị tướng thi đua nhau "sống thác coi thường." Dù có hàng triệu người tham gia các cuộc chiến chỉ có tham vọng của vài chục người gây ra mọi sự kiện trong sách này.

7 tháng 3, 2009

Sông Lô

Sông Lô (Lô River) - Văn Cao (1947) - Jason Gibbs dịch

Sông Lô sóng ngàn Việt Bắc bãi dài ngô lau núi rừng âm ư.
Lô river, the mountain waves of North Vietnam, long banks of corn sweep across the humming mountain forests.
Thu ru bến sóng vàng từng nhà mờ biếc chìm một màu khói thu.
Autumn lulls the river landing in golden waves, each house dimmed blue in the autumn smoke's tint.
Sông Lô sóng ngàn kháng chiến cháy bờ lau thưa đã tàn thôn trang.
Lô river, the mountain waves of resistance blaze sweeping clear the reeded shores, extinguishing the countryside.
Ai qua bến nắng hồng lặng nhìn màu nước sông Lô xưa.
Whoever passes the reddened landing in the sunlight, silently regards the color of the Lô river of old.
Trên dòng sông trở về đoàn người.
A band of people is returning upon the river's current.
Reo mừng vui trên sóng nước biếc.
Happily cheering upon the blue river waves.
Trôi đầy sông bao đám xác thù.
So many enemy corpses flowing past filling the river.
Dân hân hoan nghe sóng reo vi vu xa xa.
The people joyfully listen to the far-off rippling waves
Đường ngập người vang gió lá vi vu hiền hòa.
The road inundated with people resounds, the wind in the leaves gently rustles.
Sông mênh mông như bát ngát hát.
The river is immense like it's endlessly singing.
Thây giặc trôi trở về ngập bờ.
The invader's corpses flow back, inundating the shores.
Sông Gâm âm vang súng trái phá.
The Gâm river resounds with guns and shells.
Bao rừng thu như bát ngát cười.
It's as if so many autumn forests are endlessly laughing.
Dân hoan hô chiến sĩ pháo binh Việt Nam ghi cùng.
The people cheer Vietnam's artillerymen, record their merit.
Triếng trái phá quân thù gục chìm dòng Lô.
The sound of the enemy's shells sinks into the Lô's current.
Đây dòng Lô. Đây dòng Lô.
Here's the Lô's current. Here's the Lô's current.
Đoàn quân thời chinh chiến ca rằng:
Soldiers in time of war sing:
Đây Von-ga, đây Dương Tử, đây Sông Lô, đây sóng căm hờn vút cao.
Here's the Volga, here's the Yangtze, here's the Lô, here the waves of anger crest high.
Sóng lấp lánh vàng sao, ngàn chiến sĩ sông Lô.
The waves shine so golden, the thousands soldiers of the Lô river.
Chiến sĩ sông Lô thân rừng áo sương đang ca rằng:
The Lô river's warriors, their bodies a forest, shirts like the dew are singing:
Giờ mồ thực dân sóng lấp cát vàng.
When the colonizer's grave is filled in with golden sand by the waves.
Chiến sĩ sông Lô oai hùng đấu tranh gào kêu vang sóng.
The Lô river's warriors majestically struggle, calling out over the waves.
Đây giặc Pháp tàn trong căm gan toàn dân.
The French invader's die away here amongst the whole people's rancor.
Về trong đêm gió rết,
Returning in the cold evening wind,
Từng sân vui bóng người quanh lửa hồng.
Each yard is happy with shadows of people surrounding the rosy flames.
Nền khô tro than xám.
A dry base of ash and gray coals.
Đêm chìm đợi ánh triêu dương.
The evening has descended, awaiting the morning sunlight.
Vui ca hát hòa vui hát ca hòa dân buông lưới,
Happy songs mix with happy songs mix with the folks lowering their nets,
Phan Lương vui bóng thuyền.
In Phan Lương, they're happy in the boat's shadow.

Lều dựng lên ven sông, bóng người sầm uất bến Then.
Hut's are built up on the riverbank, the shadow of bustling people at the Then landing
Vui hát ca hòa vui hát ca hòa chí kiến thiết.
Happy songs mix with happy songs mix with resolve to build.
Bên sông Lô đắp nhà.
The Lô riverside is filling up with houses.
Bao dân trong Khu Mười mơ thành người sông Lô.
So many folk in the Tenth Zone dream of becoming people of the Lô river.
Đời vui vút lên. Đời vui sướng về.
A happy life rushes up. A happy life returns.
Vui hát ca hòa vui hát ca hòa chí chiến đấu.
Happy songs mix with happy songs mix with resolve to fight.
Đây tay trai Việt Bắc.
Here are the hands of the Northern Vietnamese men.
Sông Lô đang xuôi mau, tin về đồng lúa reo mừng,
The Lô river's flowing fast, believe in the rice fields of jubilation
Rung trong bao hương đồng,
Stirring up so much of the field's fragrance.
Mừng một mùa chiến công.
Celebrate a season of military achievement.
Vui hát ca hòa vui hát ca hòa dân vui nắng,
Happy songs mix with happy songs mix with folk happy in the sun.
Như chim xuân thấy mùa.
Like spring birds feeling the season.
Và đài hoa lưu luyến, xanh rừng đầy búp lá non.
And the stands of cherished flowers, the green woods full of fresh buds.
Vui hát ca hòa vui hát ca hòa những lưới mắc.
Happy songs mix with happy songs mix with the nets cast.
Ta vui khoang cá đầy.
We happy with our hold full of fish.
Tay ta tay dân chài xuôi ngược dòng sông Lô.
Our hands, the folk's hands cast the net against the Lô river's current.
Từng quăng lưới xa. Từng vây lưới giặc.
Each net cast far will be a net surrounding an invader.
Vui hát ca hòa vui hát ca hòa với ánh sáng.
Happy songs mix with happy songs mix with the light.
Ta đang xây đời mới.
We're building a new life.
Sông nuôi dân thiên thu đã hòa mạch máu bao người.
The river that has fed the folk of a thousand autumns has mixed with the blood vessels of so many people.
Sông xuôi quanh co về.
The river winds its way back home.
Hòa mạch cùng với xuôi.
Mixing the vessels with the downward flow.
Dòng sông Lô trôi,
The Lô river flows
Dòng sông Lô troi, mùa xuân tới, nước băng qua ngàn, nước in ven bờ xanh ôm bóng tre,
The Lô river flows, spring arrives, the water smoothly passes through the mountains, the water is imprinted into the green banks in the bamboo's shadow,
Dòng sông Lô trôi.
The Lô river flows.

Trên báo Sinh hoạt Nội bộ số 4-5 (tháng 11-12 1947) Trường Chinh có viết: "Lợi dụng đến cùng những thắng lợi dù nhỏ để tuyên truyền." Sách sử ở Pháp và Mỹ không kể đến trận Sông Lô nào. Gọi là trận cũng có thể là không ổn--tôi nghĩ gọi là một cuộc phục kích thì đúng hơn. Nhưng trận Sông Lô có vào sách sử Việt Nam vì đó là thắng lợi đầu tiên của cuộc kháng chiến chống Pháp. Và trận ấy cũng vào sách sử nhờ các bài hát ca ngợi thắng lợi này.

Chuyện trong lời ca "Sông Lô" của Văn Cao nghe rất kỳ diệu. Câu chuyện này là như trời đất, sông núi có làm cho Pháp bị thất bại. "Trôi đầy sông bao đám xác thù" - chính dòng Sông Lô có căm thù giết giặc. Dân Việt chỉ làm một vai trò nhỏ nhờ phép kỳ diệu ấy. Tất nhiên có "chí chiến đấu," có "tay trai Việt Bắc" nhưng chí ấy và những bàn tay chỉ là biểu hiện của "căm gan toàn dân" cùng "đồng lúa reo mừng," và "hương đồng." Có một toàn thể thiên nhiên gốm những người sống đời đời ở vùng này. Các người bộ đội chỉ thực hiện ý muốn chung của họ. "Sông nuôi dân thiên thu đã hòa mạch máu bao người." Giòng sông Lô lại là nguồn của thắng lợi này, là mạch máu cho dân Việt. Và "Từng quăng lưới xa. Từng vây lưới giặc" - dân và giòng sông làm việc chung để giết quân thù.

Và sự kiện này làm cho mùa xuân đến. Kết quả trận này là "Lều dựng lên ven sông, bóng người sầm uất bến Then" và "đài hoa lưu luyến, xanh rừng đầy búp lá non." Song điều quan trọng nhất là "Ta đang xây đời mới" - xây đời mới cũng là khẩu hiệu của một cuộc cách mạng.

26 tháng 2, 2009

Có lúc - Văn Cao

There Are Times - by Văn Cao (January 1963) - Jason Gibbs dịch

There are times
I'm alone with a knife in night's jungle unafraid of tigers

there are times
during daylight hearing a leaf fall, why do feel so panic-stricken

there are times
when tears cannot come out

Có lúc - Văn Cao 1.1963

Có lúc
một mình một dao giữa rừng đêm không sợ hổ

có lúc
ban ngày nghe lá rụng sao hoảng hốt

có lúc
nước mắt không thể chảy ra ngoài được