Ngày 14 tháng 09 năm 2014

Đồng chí của tôi (Comrade of Mine) - Văn Cao (1956)

Người ta các đồng chí của tôi
Some people, comrades of mine
Treo tôi lên một cái cây
Hung me from a tree
Đợi một loạt đạn nổ
To await a burst of bullets
Tôi sẽ dẫy như một con nai con
I'll struggle like a fawn
Ở đầu sợi dây
At the end of a rope
Giống như một nữ đồng chí
Just like a woman comrade
Một anh hùng của Hà Tĩnh
A hero from Hà Tĩnh
Tôi sẽ phải kêu lên
I'll have to call out
Như mọi chiến sĩ bị địch bắn
Like each warriors the enemy shot
Đảng Lao động Việt Nam muôn năm
The Vietnamese Labor Party forever
Cho mọi người hiểu khi tôi chết
Let each person understand that when I died
Vẫn còn là một đảng viên
I was still a party member
Cho mọi người hiểu khi tôi chết
Let each person understand that when I died
Máu của tôi vẫn còn là máu của Việt Nam
My blood was still Vietnam's blood
Ở dưới gốc cây có các cụ già các bà mẹ đã nuôi cách mạng
Beneath this tree, elderly grandmothers and mothers who have supported the revolution
Các em nhỏ từ ba tuổi đứng nhìn tôi dẫy chết
Little kids, three years and older have stood and watched me struggle in death
Có mẹ tôi
There was my mother
Ba lần mang cơm đến nhà tù
Three times she brought rice to me in prison
Hãy quay mặt đi
Turn away
Cho các đồng chí bắn tôi
So my comrades can shoot me

Tôi sợ các cụ già không sống được
I'm afraid you old folks won't live
Bao năm nữa
Many more years
Để nhìn thấy xã hội chủ nghĩa
To see the socialism
Của chúng ta.
That's ours.
Chết đi mang theo hình đứa con
Dying with the photograph of your child
Bị bắn
Who was shot
Tôi sợ các em còn nhỏ quá
I'm afraid the young ones still too little
Sẽ nhớ đến bao giờ
Will remember this until
Đến bao giờ các em hết nhớ
Until a time when they run out of memory
Hình ảnh tôi bị treo trên cây
Of an image of me tied to tree
Bị bắn
Being shot
Hãy quay mặt đi
Turn away
Cho các đồng chí bắn tôi…
So my comrades can shoot me...
Nước mắt lúc này vì Đảng nhỏ xuống
These tears are for a Party that is lessened
Dòng máu lúc này vì Đảng nhỏ xuống
A track of tears for a Party that is lessened
Đảng Lao động Việt Nam muôn năm
Vietnamese Labor Party forever
Đảng Lao động…
Vietnamese Labor Party...

nguồn: Nguyễn Trọng Tạo, "Bài thơ về cải cách ruồng đất của Văn Cao"

"Sẽ nhớ đến bao giờ / Đến bao giờ ... hết nhớ."  Cuộc mà gọi là cải cách ruộng đất là một vết sẹo trên thân thể chung của người Việt không biết có bao giờ lành.  Yếu tố chính mà gây ra các chiến tranh là đất đai. Theo tôi nghĩ cuộc cải cách ruộng đất chỉ là một màn trong một cuộc nội chiến chưa đình chiến hẳn.  Người Việt đánh người Việt.  Những người bị đánh thì cẫm uất.

Tôi chỉ mới biết đến bài thơ này.  Mặc dù chưa được đăng một cách chính thức và đến bây giờ chưa được phổ biến rộng rãi, chắc một số ít người đã được biết đến bài thơ này lúc mà Văn Cao viết nó ra.  Nếu số ít người được biết đến bài thơ này, thì chắc chăn lãnh đạo văn nghệ lúc bấy giờ biết đến bài thờ này nữa.  Có lẽ chính bày thơ này đã gây vấn đề cho Văn Cao trong thời Nhân Văn Giai Phẩm.

Theo Đảng giống như theo Đạo.  Đảng viên cũng như người trong giáo đoàn phải tin cậy ở riêng một chân lý.  Chân lý ấy nằm ở đạo đức của mình (và thỉnh thoảng ở việc chống tội ác của người ngoài đảng / ngoài đạo).  Văn Cao và đàn bà mà bị tử hình ở trên chung một niềm tin chân lý.  Bài thơ này không nói là bà ấy bị lên án vì bằng chứng hay lý do nào, nhưng lý do chính chắc là lý lịch của bà ấy hay gia đình của bà ấy trong thời tiền khởi nghĩa.

Hình như với trường hợp này, bà ấy không thể đủ công với đảng để rửa tội của bà ấy, hay tội của gia đình bà ấy.  Vậy bà ấy bị treo cây và tử hình trước mặt của con và mẹ của mình.  Bà ấy bị làm gương.

Điều chắc chăn là bà ấy đã cũng muốn mẹ và con của mình tin ở chân lý ấy.  Văn Cao là người ngoan đạo muốn tin ở chân lý ấy nữa.  Song cái gọi là chân lý cứ giết bà ấy.  Vậy chân lý ấy bị "nhỏ xuống."  Tuy vậy, hình như bà ấy và Văn Cao chưa hết niềm tin.  Bà ấy nói (theo lời ghi của Văn Cao) "hãy quay mặt đi."  "Quay mặt" bởi mình thấy xấu hổ cho chân lý mình từng theo, chứ phải bởi mình thấy xấu hổ cho mình.  Điều đau xót nhất là mình vẫn còn niềm tin với đạo / đảng ấy.  "Cho mọi người hiểu khi tôi chết / Vẫn còn là một đảng viên."  Niềm tin vào chân lý ấy còn dù mình không còn.

Ngày 10 tháng 09 năm 2014

Tô Tử đi thăm phòng triển lãm 1935

Tô Tử [tức Tô Ngọc Vân] thấy:

(1) Người trần truồng biết thẹn (của G. Khánh) mà lại nhất định không chịu mặc quần.

(2) Thích Ca (của Nam Sơn) đỗ xe đạp xuống Tu nhưng bị các mẹ ranh trên chợ ám ảnh.

(3) Người Huế (của Mai Trung Thứ) họa đàn đến rớt nước mắt.

(4) 2 người đàn bà (của Tô Ngọc Vân) đang bàn nhau mua con bò non về làm tái.

(5) Họ đang lấy ráy tai cho nhau trong tranh của Trần Bình Lộc.

(6) Bức truyền thần ông Hoàng Trọng Phu (của Lê Phổ) nhìn lên cho khỏi thấy sách của Tự Lực Văn Đoàn

(7) Đông Sơn (của Đinh Khang) lại ngồi với 2 cô Báo Phụ Nữ (của Trần Văn Minh)

(8) Vịt (của Lê Phổ) đậu dưới cành mai.

(9) Người đàn bà Vọng Phu (của Trần Ngọc Quyên) cởi truồng nghĩ mãi mới biết tác giả để khỏa thân như thế là thể tất cho người ta lắm.

nguồn: Phong Hóa 136 (15 février 1935), tr. 1.

Nếu các tranh biếm họa này được cho trên bia báo, tạp chí nào hiện nay thì sao?  Tôi nghĩ rằng chắc không có ai dám đăng biếm họa kiểu này bây giờ ở Việt Nam.  Có ba lý do là 1) nội dung (các bà, các cô cởi truồng, và ông sư nhìn đàn bà cởi truồng) 2) vì chế giễu công chức nhà nước; và 3) vì chế giễu các họa sĩ.

Ở phòng triển lãm về [Tô Tử - Tô Ngọc Vân]

Chỉ vì cái tượng khỏa thàn

--Này nhìn! này nhìn!!

nguồn: Phong Hóa 138 (1 mars 1935), tr. 3.

Ngày 07 tháng 09 năm 2014

2006 là năm "Bộ đội về làng" được phép phổ biến?

Theo danh mục của Cục Nghệ Thuật Biểu Diễn thì bài ca "Bộ đội về làng" mới được phép phổ biên từ ngày 16 tháng 12 2006.  Bài hát ấy bị cấm từ bao giờ?  Tại sao mà bị cấm?

"Bộ đội về làng" được sáng tác ở vùng kháng chiến năm 1950 và được trao giải thưởng của Hi Văn Ngh Vit Nam năm 1955.  Năm 2007 bài ca này cũng được trao Giải Thưởng Nhà Nước.  Cũng có thông tin này:
Trong năm 1952: Chủ tịch Hồ Chí Minh tới dự liên hoan văn nghệ trong rừng. Sau khi nghe hát bài: Bộ đội về làng biết có tác giả đang có mặt. Người đã tặng Nhạc sĩ Lê Yên một điếu thuốc lá (xem "Tư liệu về Đảng," Báo điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam (28/1/2010)).
Bài ca này được phỏng theo lời bài thơ "Bao giờ anh trở lại" của Hoàng Trung Thông.  Có thêm một bài ca nổi tiếng được sử dụng đến bài thơ này là "Các anh đi" của Văn Phụng.  Bài ca ấy bị cấm phổ biên ở Việt Nam từ 1975 đến bây giờ. 

Một bài thơ - hai ca khúc.  Một bài ca bị cấm từ 1955 đến 2006?  Chắc không hẳn như vậy, bởi vì "Bộ đội về làng" được các ca sĩ Kim Oanh, Mỹ Bình, Thúy Lan và Phan Muôn hát trên làn sóng Đài Tiếng Nói Việt Nam.

Nhưng cũng có một bài ca khác không được phép hát ở miền bắc Việt Nam từ khi mà ca sĩ Thanh Hiếu hát bài "Các anh đi" với Dàn Nhạc Lúa Vàng ở rạp Đại Đồng, Hà Nội, ngày 13 tháng 2 năm 1955.

Ngày 06 tháng 09 năm 2014

trích "Dân gian đương đại chính là Dân tộc hiện đại" - Quỳnh Hợp (2010)

Nhiều bạn trẻ thuộc thế hệ 8X thì ít hoặc không nghe nhạc Việt chứ chưa nói đến nghe các bản dân ca Việt Nam nên họ đã không còn thích và không hứng thú với việc sáng tác dựa trên âm hưởng một làn điệu dân ca của một vùng nào đó.  Họ không thích làm mới mình bằng âm nhạc dân gian Việt mà họ tìm đến nhạc Mỹ, nhạc Hàn, nhạc Hoa để làm mới.  Với họ nghe sao cho "tây tây" một chút là MỚI.  Vì thế mà hàng ngày ca khúc trên thị trường hiện nay nghe chung chung, thiếu cá tính trong cả ngôn ngữ và chất liệu âm nhạc.

Âm nhạc Việt Nam muốn hội nhập thì chắc chắn cần những tác phẩm có cái riêng mang bản sắc Việt.  Mà cái riêng đó chỉ có trong âm nhạc dân gian các cùng vùng miền.  Còn để giải trí và thưởng thức thì cần nhiều những sáng tác phong phú về ngôn ngữ và phong cách âm nhạc.  Bản sắc Việt trong từng sáng tác sẽ rất phong phú và đa dạng tùy khả năng thẩm thấu của từng tác giả với từng vùng âm nhạc dân gian.

nguồn: Âm nhạc Việt Nam Panorama #8 tháng 3 năm 2010.


Bà Quỳnh Hợp nhận xét đúng - đa số người trẻ thuộc thế hệ 8X (và chắc 9X, 0X và 1X nữa) ít khi muốn tiếp xúc với dân ca Việt Nam.  Điều đó không nên làm ai ngạc nhiên.  Dân ca thuộc về một lối sống xa xôi đối với một xã hội hiện đại hóa và công nghiệp hóa.  Dân ca thuộc vào một nếp sống đã mất lâu rồi.  Của một thời chưa máy móc, chưa điện tử, một thời chưa "hội nhập."  Một thời chưa vào cuộc "nông thôn mới."

Chữ "hội nhập" cũng rất hiện đại.  Từ điển tiếng Việt (Hà Nội: Nxb Khoa học Xã hội học - Trung tâm Từ điển học, 1994) chưa có từ "hội nhập."  Hội nhập là một từ mới thành phổ biên trong khoảng thời gian ngay sau quyển từ điển ấy.

Theo Từ điển tiếng Việt (Nxb Đà Nẵng; Trung tâm Từ điển học, 2007), nghĩa của hội nhập là "tham gia vào một cộng đồng để cùng hoạt động và phát triển với cộng đồng ấy [thường nói về quan hệ giữa các dân tộc, các quốc gia]."  Tôi nghĩ như thế chưa đúng hẳn vì tôi biết đến nhiều trường hợp có người sử dụng chữ hội nhập với ý nghĩa cá nhân - một người hội nhập vào một tình trạng nào đó.

Từ điển Việt Anh (Nxb Thế giới, 1998) dịch hội nhập với các chữ tiếng Anh như mingle, mix up with, affiliate, affiliation, và integration.  Như vậy có phải là hội nhập đồng nghĩa với các từ như "hợp nhất" (unify, merge), "liên kết" (unite, associate), "trộn lẫn" hay "pha lẫn" (mingle, mix, blend)?

Hội nhập / 會入: Chữ hội / 會 nghĩa là tụ họp lại.  Chữ nhập / 入 nghĩa là vào.  Mọi người, mọi đoàn người, mọi dân tộc đến từ nơi cư trú riêng của họ và đi vào một nơi "chung" và tụ họp với nhiều người, nhiều đoàn, nhiều dân tộc khác với mình.  Kết quả của cuộc tụ họp ấy chưa biết sẽ thế nào, nhưng chắc phải mong rằng mọi người, mọi dân tộc đến vào nơi "chung" ấy với một lòng tốt với nhau.

Nhưng một điều tất nhiên là có những người, những dân tộc với sức mạnh hay sức quyến rũ hơn sức mạnh hay sức quyến rũ của những người, những dân tộc khác.  Có lẽ sức quyến rũ ấy là bởi sắc đẹp? Có lẽ là bởi tiền bạc? bởi lời nói ngọt ngào?  Có lẽ là bởi sức duyên dáng?  Một điều tất nhiên là đằng sau sức mạnh ấy phải có khả năng để giao thiệp, và khi mà giao thiệp thì phải có gì hấp dẫn để nói.  Sức hấp dẫn của nhạc địa phương chắc là "bản sắc."  Nhưng liệu nhạc Việt (nói cụ thể hơn - các người đại diện cho nhạc Việt - tức là các công chức văn hóa ở Việt Nam) có khả năng giao thiệp với cộng đồng nghe nhạc khắp thế giới thì tốt lắm chứ?

Cái công cuộc hội nhập đâu phải là bình đẳng hay công bằng.  Vào cuộc tụ họp lại thì không biết mình sẽ bị phớt lờ và cùng lúc mình rất có thể sẽ được nhận ảnh hưởng của người / dân tộc khác.  Nói cho cụ thể hơn về trường hợp của nhạc Việt, khi mà "nói về quan hệ giữa các dân tộc, các quốc gia" rất có thể là các tác phẩm đương đại của Việt Nam sẽ ít gây ấn tượng với thế giới ra ngoài.  Song ngược lại các tác phẩm đương đại từ toàn cầu sẽ gây ấn tượng mạnh với người thưởng thức và sáng tác nhạc ở xứ Việt.

Với Việt Nam, thời tiền-hội-nhập là thời bức màn sắt.  Các cơ quan quản lý văn hóa ở Việt Nam làm hết mình để ngăn cản các văn hóa phẩm đương đại từ các nước mà có thị trường mạnh, có tự do ngôn luận, và không có công an văn hóa điều khiển sinh hoạt văn hóa không được vào nước Việt .  Hội nhập có nghĩa là mới phải cạnh tranh với các xã hội có thị trường mạnh, có tự do ngôn luận, và không có công an văn hóa.  Trong tình trạng này văn hóa Việt Nam rất khó thành công trên trường quốc tế.

Như vậy, "thế hệ 8X thì ít hoặc không nghe nhạc Việt" là một điều lẽ dĩ nhiên.  Người ta cứ kêu gọi như ngày xưa là các soạn giả người Việt "phải làm sao cho người ngoài có thể bằng những tác phẩm ấy mà biết được rằng trên thế giới thật đương có một dân tộc Việt Nam."  Như thế là tốt lắm rồi.  Nhưng văn hóa không nên thành một công cụ của chính sách đối ngoại.  Văn hóa nên đáp ứng nhu cầu của người nhìn, người đọc, người nghe - ở xứ Việt, và trên toàn cầu. 

Ngày 05 tháng 09 năm 2014

Vollmann on violent death / Vollmann nói về sự chết có bạo lực (2014)


Los Angeles Review of Books phỏng vấn nhà văn William Vollmann - đăng ngày 15 tháng 8 2014

I think that to see death is to be damaged and to see violent death is to be damaged further, and so compared to a soldier I'm very, very lucky.  One of the reasons that witnessing violent death is so awful is because you see people's agency taken from them, and then you tend to feel more powerless yourself.

Tôi nghĩ rằng việc xem sự chết là sẽ bị thiệt hại và xem sự chết của bạo lực là sẽ bị thiệt hại hơn nữa, vậy so với một người lính tôi rất là may mắn.  Một trong những lý do mà chứng kiến sự chết của bạo lực đáng kinh sợ là bởi vì mình trông thấy khả năng hoạt động của người khác bị chiếm mất, rồi mình cảm thấy như mình cũng bị bất lực nữa.

Ngày 02 tháng 09 năm 2014

Sáng tác là nhiệm vụ đầu tiên (Writing is the First Responsibility) - Hồng Hà (1946)

 nguồn ảnh: Cứu Quốc 12 tháng 10 1946, 2.

Xưa kia học theo Tàu và gần đây học heo Tây, văn hóa của ta bao giờ cũng ở địa vị phụ thuộc, địa vị thụ động: chỉ biết nhận vào, còn tự mình tạo nên một cái gì thì--không có, hay có cũng không đáng kể.

Cái đó kể ra cũng tất nhiên.  Dân tộc Việt từ xưa bao nhiêu lần bị chinh phục (nếu không về chính trị thì về tinh thần) tất nhiên, về mặt văn hóa, phần nhiều chịu ảnh hưởng của người và để tê liệt mất cái năng lực sáng tạo của mình.

Chúng ta là một dân tộc không thiếu gì sức sống.  Vậy mà bao nhiêu thế hệ kế tiếp nhau, sống rồi chết trên giải đất này mà vẫn chưa thực hiện một nền văn hóa mang đầy đủ và mạnh mẽ những đặc tín của dân tộc Việt Nam.  Lòng tự ái dân tộc đã khiến nhiều người trong chúng ta cố tìm cách chứng tỏ rằng chúng ta đã có một nền văn hóa đặc biệt.  Nhưng một nền văn hóa còn cần phải chững tỏ là có ấy, hẳn chỉ có một cách lờ mờ, nghèo nàn...

Trước đây cái tình trạng ấy của văn hóa Việt nam, ta còn có cái an ủi rằng phần lớn không do ở ta định đoạt.  Bao nhiêu sự giàng buộc.  Bao nhiêu sức kim hãm.

Bây giờ, vận mạng ta là ở trong tay ta quyết định, chúng ta bị đẩy đều trước trách nhiệm ghê gớm; chúng ta có đang được là gì không, đây ta lúc thử thach, bởi vì tất cả hay dở thế nào đều là ở ta mà thành.

Trong Hội nghị Văn Hóa Cứu quốc vừa rồi, khẩu hiệu "phải sáng tác" đã được nên lên trước tất cả.  Đó là một khẩu hiện lên đúng lúc, cũng như khẩu hiệu "kiến thiết" trong các địa hạt sinh hoạt và hoạt động khác trong nước nhà bây gìơ.

Chúng ta phải sáng tác những gì?  Ở khắp các ngành văn hóa, ta đều phải mang cái tinh thần sáng tạo độc lập của ta vào, về học thuật, tư tưởng cũng như về nghệ thuật.

Riêng về nghệ thuật, trong đó có tính cách sáng tác có thật hay giả dễ nhận ró hơn cả, ta phải làm việc nhiều nhất.  Ta cần phải có những tác phẩm mà người ta sé có thể nói được rằng đây là một tác phẩm Việt Nam, mọc thẳng lên từ ngay trong sinh hoạt và tâm hồn ngời Việt Nam, mang những thể cách cảm xúc và diễn tả thật Việt Nam.  Ta cần phải làm sao cho người ngoài có thể bằng những tác phẩm ấy mà biết được rằng trên thế giới thật đương có một dân tộc Việt Nam và dân tộc ấy đã và đương bận rộn, nghĩ ngợi đau đớn và ước mơ những gì.

Sáng tác, đó là cách tư mình chứng tò rằng mình sống và đáng sống.


Long ago studying the Chinese, recently studying the West, our culture is always in the position of being dependent and passive: we just know how to receive, and creating something on our own... it hasn't happened, and if it has it's not worth mentioning.

Stating that is obvious.  The Vietnamese people for a long time having been conquered many times (if not politically then spiritually), naturally, in the area of culture, for the most part have endured the influence of others and have atrophied our own creative abilities.

We are a people who does not lack for vitality.  Yet for many successive generation living and dying on this strip of land we have yet to achieve a culture that is sufficient and strong enough in the characteristics of the Vietnamese people.  National self-respect has caused many of us to try to find a way to demonstrate that there is a special culture.  But a culture still must demonstrate that it has this, not just in a vague, impoverished way...

Before that situation of Vietnamese culture, we still had the consolation that this was not determined by us.  There were so many constraints.  So many impediments.

Today, our fate is in our hands to decide, we are pushed before an awesome responsibility; what have we gotten, this is the moment of trials, because everything well or poorly done will have been done by us.

During the recent National Salvation Cultural Conference, the slogan "we must create" was placed above all. It was a slogan correct for the times, and it's also a "constructive" slogan in every field of activity and other actions in the motherland today.

What must we create?  In every single area of culture we must bring our independent creative spirits to bear, in scholarship, in ideology and also in the arts.

Uniquely for the arts, in which the manner of creation that true or false is most easy to recognize, we must work the most.  We must have works that people will be able to say that this is a Vietnamese work, arising directly from the activities and soul of the Vietnamese people, bearing an authentic manner of feeling that is Vietnamese.  We must make it so that outsiders are able, through these works, that on this real world there is a Vietnamese people and that this people has been and is busy, contemplating, pained and hoping for what things.

Creation, that is the way of showing that we are living and are worthy to live.

nguồn: Cứu Quốc 19 tháng 10 1946, 2.


"Sáng tác, đó là cách tư mình chứng tò rằng mình sống và đáng sống."  Tôi đồng ý.  Nhưng đọc cả bài này thì mới biết không phải đơn giản như vậy.  Sáng tác cũng có nghĩa là phải theo một lối chính đáng.

Những năm đầu thế kỷ 20 nhiều trí thức người Việt chủ trương những quan niệm chủ nghĩa Darwin xã hội (social Darwinism).  Darwin nói đến sự tồn tại và tiến triển của những vật được thích nghi với hoàn cảnh, vậy người Việt rất lo đến việc tìm cách để thích nghi với các biến đổi từ tây phương vào.  Một người bạn tôi, tiến sĩ Hoàng Tuấn có một nhận xét thú vị là chữ "thực dân" cũng có nghĩa như "ăn người" (nhưng thực ra chữ thực / 殖 khác với chữ thực / 食).

Nếu nước mình còn yếu, nước mình chưa thích nghi hoàn cảnh toàn cầu, thì văn hóa mình còn yếu, văn hóa mình không thích nghi.  Như vậy một nhà trí thức như Đào Duy Anh sẽ viết về một nền văn hóa với "tính chất lư­u động và phiền phức, như­ng thiếu hẳn hoạt khí."  Chỉ có một cách để làm cho văn hóa Việt vừa được linh họat, vừa được có sinh khí.  Các nhà sáng tác phải yêu nước hơn bao giờ hết.

Song lẽ việc yêu nước tốt, chiến đấu tốt có phải nhất thiết có ý nghĩa là sẽ làm được các tác phẩm văn hóa tốt?  Cái vấn đề là các người đứng lên bình luận ở trên là người đó chưa chứng tỏ rằng họ thật sự được nhìn, nghe và biết văn hóa Việt là như thế nào.

Điều đáng lo là "văn hóa ta bao giờ cũng ở địa vị phụ thuộc, địa vị thụ động." Tình trạng này trái ngược với "lòng tự ái dân tộc" của người Việt.  Công thức để giải quyết vấn đề này là người Việt, hay nói chính xác hơn, các nhà sáng tác người Việt phải khai thác bản sắc dân tộc.  Hồi đó các nhà phê bình văn hóa chắc chưa được "khai th́ác" các cụm chữ như "khai thác" và "bản sắc." Vậy họ viết:
Ta cần phải có những tác phẩm mà người ta sé có thể nói được rằng đây là một tác phẩm Việt Nam, mọc thẳng lên từ ngay trong sinh hoạt và tâm hồn ngời Việt Nam, mang những thể cách cảm xúc và diễn tả thật Việt Nam
Trải qua một thời dưới sự thống trị thực dân thì rất dễ cho rằng nền văn hóa ấy là một nền văn hóa phụ thuộc - là văn hóa của một dân tộc bị đồ hộ, bị thực dân hóa.  Song trước khi cơ chế thực dân chủ nghĩa nhập vào xứ Việt thì chắc người Việt chưa có ý thức về văn hóa như vậy.

Văn hóa thụ động -- cái ý niệm mà văn hóa phải động lực, phải tiến lên từ đâu ra - ý kiến đó chỉ có từ bên tây phương, từ bên thực dân ra.  Thời "tiền-thực dân" có ai lo đến chuyện của một nền văn hóa lai căng?  Người Việt rất dễ thích nghi với những yếu tố văn hóa các dân tộc miền núi, văn hóa Trung Hoa, văn hóa Chăm, văn hóa Khmer, và văn hóa phương tây nữa.  Có lẽ đã có những quan chức với khái niệm nho giáo lo về ảnh hưởng về tinh thần của riêng một loại nghệ thuật nào đó.  Họ nói đến tác động của loại nghệ thuật đó thôi.  Nhưng thực sự người Việt dễ gần, dễ thích hợp với các loại nghệ thuật xuất từ ngoài một cách rất đam mê, linh hoạt và dễ dàng, chứ phải là thụ động.

Tác giả bài này nói đến "Bao nhiêu sự giàng buộc. Bao nhiêu sức kim hãm" của thời trước.  Thời sau bài biết này (từ năm 1946 trở sau) các nhà sáng tác người Việt cũng trải qua bao nhiêu ràng buộc, kim hãm qua một chế độ kiểm duyệt chặt chẽ, tùy tiện.

Ông ấy cũng chủ trương rằng thời trước thì người Việt không "tạo nên một cái gì."  Các tác phẩm giá trì "thì không có, hay có cũng không đáng kể."  Tôi mời các bạn so sánh hai khoảng thời gian 14 năm - những năm 1932-1946 với những năm 2000-2014.  Thực ra hai giai đoạn có nhiều tác phẩm đáng kể, nhưng tôi nghĩ rằng một người khách quan không thể nào cho rằng thời trước là một thời kém về mặt văn hóa Việt Nam.  Đó là thời đại hoàng kim nhóm Tự Lực Văn Đoàn, của nền sân khấu cải lương.  Thuở ấy kịch nói và tân nhạc cũng đang phát triển.  Và các làng xóm còn giữ các sinh hoạt dân gian, truyền thống nhiều hơn hôm nay.

Tôi nghĩ rằng người viết bài này ở trên chưa bao giờ chứng tỏ đã tìm hiểu, phân tích, giải thích tác phẩm Việt nào.  Viết bài này chỉ nhằm một mục đích chính trị nào đó.  Việc yêu nước không tương đương với việc sáng tác tác phẩm có giá trị.