Ngày 17 tháng 04 năm 2014

Cô đào và Lý Toét (Songstress and Bushy Lý) - Vu (1935)

Chẳng tham ruộng cả ao liền,
Chỉ tham cặp mắt anh viền vải tây.
Em chỉ muốn lấy.

No desire for the fields or adjoining pond,
Just desire for your eyes, edged with western fabric
I just want to take you.

nguồn: Phong Hóa số 143 (7 tháng 4 1935), tr. 3.
Thêm văn hóa phi vật thể.

Ngày 16 tháng 04 năm 2014

Ca ngợi đời sống mới (Praise The New Life) - Nguyễn Đức Toàn (1946)

Đây trời Việt Nam ngàn năm tươi sáng luôn.
Here Vietnam's skies for a thousand years always fresh and bright.
Thanh niên xung phong đấu tranh vì đất nước.
Assault youth fight for the land.
Đây người Việt Nam ngàn xưa anh dũng luôn.
Here Vietnam's people for a thousand years always heroic.
Thanh niên kiên cường trí vững vàng.
Steadfast youth of steady mind.

Kia Việt Nam ngàn năm quyết không lùi.
There Vietnam for a thousand years resolved not to retreat.
Trời Việt Nam luôn luôn sáng tươi.
Vietnam's sky forever fresh and bright.
Người Việt Nam ngàn năm quyết không lùi.
There Vietnam for a thousand years resolved not to retreat. 
Cùng vùng lên đấu tranh xây đời.
Together arise, fight to build their lives.

Đời sống mới.
New lives.
Người Việt Nam mới.
A new Vietnamese people.
Thanh niên đi lên đắp xây dựng non nước
Youth ascend to build up the homeland
Đời sống mới.
New lives.
Trời Việt Nam mới.
A new Vietnamese sky.
Xây núi sông bằng sức người Việt Nam.
Erect mountains and rivers with the strength of Vietnamese people.


Đây là bài ca đầu tay của Nguyễn Đức Toàn viết trong thời phong trào "đời sống mới."  Như bài báo Cứu Quốc 19 tháng 12 1946 (đúng là ngày đầu của Trận Hà Nội) viết về đời sống mới này:
Nó là đời sống của những người, của một dân tộc luôn luôn nhận thức rằng mình có Tổ quốc để phụng sự, có đồng bào để chung sống, có kế hoạch, có đường lối để làm việc và phấn đấu.
Đây cũng là những người Việt mới.  Mới thật.  Trước thưở ấy người Việt chưa biết chủ nghĩa dân tộc. Con người Việt trong bài hát này cũng không đi cùng những hình ảnh cũ như khi "tuốt gươm" trong bài "Diệt Phát Xít," "da ngựa bọc thân" của bài "Chiến sĩ Việt Nam."  Nếu có mâu thuẫn trong bài ca "Ca ngợi đời sống mới" là tại sao đời sống mới này phải tựa vào một quá khứ ngàn năm xa xưa?  Người Việt xưa bị lâm vào cảnh nội chiến lâu năm và cũng "mất nước" vài lần rồi.

Đời sống mới này theo một ý nghĩa "mới."  Chữ "mới" vốn có một ý nghĩa đơn giản là "vừa xảy ra" (xem Việt Nam tân từ điển minh họa (Khai Trí, 1967) hay Trương Văn Hùng, Từ điển tiếng Việt phổ thống (Nxb Thanh Niên, 2007)).  Tôi cũng thích cách định nghĩa chữ "mới" của Huình Tịnh Paulus Của là "Chưa hề có, chưa ai biết, còn tinh hảo, còn nguyên vẹn, còn sốt, còn tươi, bây giờ, tức thì, hiện tại, không có bao lâu; chừng ấy" (Đại Nam quấc âm tự vị (Rey, Curiol & Cie., 1895)).

Quyển Dictionnaire élémentaire annamite-français của R.P. Legrand de La Liraÿe (Challamel aîné, 1874) dịch chữ mới một cách rất đơn giản là "nouveau" hay "récemment."  Vậy có phải chữ "mới" có ý nghĩa giống chữ "new" trong tiếng Anh?  Một cách định nghĩa chữ "new" trong quyển Oxford English Dictionary là "Not previously known or experienced; now known or experienced for the first time" (Chưa từng biết đến hay trải qua; hiện được biết đến hay trải qua lần đầu tiên).

Song lẽ, có những quyển từ điển tiếng Việt hiện đại có chất chính thức (như Từ điển tiếng Việt (Trung tâm từ điển ngôn ngữ, 1992) hay Từ điển tiếng Việt (Trung tâm từ điển học Vietlex, 2007) cũng dịch chữ mới một cách mới.  Từ điển kiểu này cũng dịch chữ "mới" một cách quen thuộc là "vừa có hay vừa xuất hiện chưa lâu."  Nhưng từ điển này cũng định nghĩa chữ mới một cách rất đặc biệt là "thích hợp với thời đại ngày nay, với xu thế tiến bộ."

Ý nghĩa này cũng lờ mờ - thế nào là thích hợp, là tiến bộ? Ai được đánh giá việc thích hợp, tiến bộ này?  Đây là một ý nghĩa chính trị không phải một ý nghĩa khoa học.  Oxford English Dictionary cũng định nghĩa chữ new một cách tương tự là "Other than or replacing the former or old; different from that previously existing, known, or used; changed" (Khác với hay thay thế cái trước hay cái cũ; khác với các cái mà trước đây được hiện hành, biết đến, hay sử dụng đến; đã thay đổi).  Nhưng định nghĩa kiểu này không đánh giá về cái khác, về sự thay đổi.

Nếu nói "mới" là "thích hợp," thì "cũ" là chưa hay không thích hợp.  "Mới" là tiến bộ thì "cũ" là lạc hậu, phải không?  Nhưng cái mới, cái thích hợp, cái tiến bộ cũng làm vai trò khác với cái trước và thay thế cái cũ. Thành mới thì phải thay đổi chứ?

Chữ xu thế cũng là một chữ lờ mờ ít nhiều.  Ai mà nắm được xu thế này?  Có phải là xu thế 1946 khác với xu thế năm 1986?  Khác với xu thế năm 2014?  Vậy quan niệm "mới" là thế nào cũng thay đổi theo thời cuộc.  Liệu có người còn hát các bài ca về đời sống mới năm 1946, con người mới của thời này sẽ hát không hát về mình nhưng lại hát về một thời cũ có xu thế khác.

Ngày 14 tháng 04 năm 2014

Ba bài thơ của Thái Bá Tân (2013)

Nhiều luật quá - Too Many Laws

Lại thêm một luật nữa,

Yet again another law
Phạt một trăm triệu đồng

Fining one hundred million more đồng
Những ai dám nói xấu

Who would dare to speak ill
Nhà nước mình. Sợ không?

Of their government.  Afraid yet?

Thế nào là nói xấu?

What is it to speak ill?
Nhà nước sai thì sao,

What if the government's wrong,
Yếu kém và tham nhũng,

Weak and corrupt
Không lẽ không người nào

It cannot be that one of them is?

Được phép có ý kiến?

Are we allowed a suggestion?
Hay dân muốn phê bình

Or the people wanting to criticize
Thì phải xin phép trước

Must ask permission in advance
Cho nó “đúng qui trình”?

So it's "the correct process"?

Nhà nước ta, tôi nghĩ

Our government, I think
Rõ ràng có vấn đề.

Clearly has problems.
Các bác ấy chỉ muốn

Those elders just want
Đóng cửa rồi “tự phê”.

To close the door and engage in "self criticism."

Một triết gia đã nói,

A philosopher once said,
Tôi không hề đặt điều:

I don't make this up:
Nhà nước càng mục nát,

The more rotten the government,
Thì luật càng có nhiều.

The more laws that are written.


Đáng lo - Worrisome

Có cái gì không ổn

There's something that's not right
Trong việc giờ, ở đâu

During working hours, somewhere
Cũng san sát quán nhậu,

Quite close by in watering holes
Cao lâu rồi thấp lâu.

Banquet halls and greasy spoons

Rồi quán bia, quán lẩu,

And beer halls, fondue shops,
Rồi ka-ra-ô-kê,

And karaoke,
Rồi trăm thứ ăn uống

And a hundred things to eat and drink
Chiếm hết cả vỉa hè.

Taking over the sidewalk

Đâu cũng thế, nhiều lắm,

Everywhere it's like that, a lot of it,
Nhiều đến mức giật mình.

So much that it's shocking.
Mà sao ăn ngoài phổ,

And why are they eating on the street,
Không phải ở gia đình?

And not with their families

Nếu đó là “văn hóa,”

If that's "culture,"
Thì kiểu “văn hóa” này

Then this kind of "culture"
Rất đáng để lo sợ,

Is quite worrisome and frightening,
Vì lý do sau đây:

For these reasons:

Một, lai rai ăn nhậu

First, drinking at leisure
Tốn thời gian, tốn tiền.

Wastes time, wastes money.
Một cảnh không đẹp lắm,

It's not attractive,
Nhất là với thanh niên.

Especially for young men.

Hai, uống say, về muộn

Second, getting drunk, coming home late
Thành lục đục gia đình.

Causes familial strife.
Con cái tuy không nói,

Relatives even if they don't say it
Nhưng trong lòng chúng khinh.

Inside they feel scorn

Ba, tửu nhập ngôn xuất,

Third, imbibing loosens the tongue,
Chuyện dại rồi chuyện khôn.

Foolishness then cunning.
Không khéo rồi sinh sự,

If you're not careful then you quarrel,
Phải kéo nhau vào đồn.

You'll be taking yourselves to the station.

Bốn, và quan trọng nhất -

Fourth, and most important -
Trẻ, rất cần thời gian

The young really need time
Để đọc sách, làm việc,

To read books, to work,
Không hưởng lạc, an nhàn.

Not to enjoy pleasure and leisure.

Tóm lại là tôi thấy

In conclusion I see that
Cái nước mình thật buồn.

Our country's quite sad.
Cái gì cũng yếu kém,

Everything is weakness
Ăn chơi thì sợ luôn.

The idle loafing is dreadful.

Uống bia nhất châu Á,

Drinking the most beer in Asia,
Nhậu nhẹt suốt đêm ngày.

Imbibing all day and all night.
Nếu đó là “văn hóa,”

If that is "culture,"
Thì thật đáng lo thay.

Then we've a lot to worry about.

Không đi làm nhà nước - Don't Work for the Government

Tôi khuyên các bạn trẻ,

I advise my young friends
Nếu được, khi học xong,

If possible, when you finish your studies
Đừng vào làm nhà nước,

Don't go into government employment,
Nhất là việc văn phòng.

Especially office work.

Vì sao? Vì thực tế

Why?  Because the reality is
Cái chỗ ấy bây giờ

That these places nowadays
Thực sự không làm việc,

Actually do not work,
Mà chỉ lờ tờ phờ.

And just hang around.

Vì cái thằng thủ trưởng,

Because the jerk in charge,
Đảng viên, thường ngu lâu,

Party member, usually dense
Hắn thấy cấp dưới giỏi

If he saw any of his underlings had ability
Là không chịu được đâu.

He sure wouldn't put up with it.

Vì sớm muộn, ở đấy

Because sooner or later, over there
Bạn phải thay đổi mình,

You'll have to change who you are
Thành dối trá, nịnh hót

Become deceitful, obsequious
Cho giống người xung quanh.

So that you like those around you.

Mà không thay là chết.

And if you don't change you're done for.
Có lúc sẽ nhúng chàm.

There will come a time when you have to dirty your hands
Sẽ phải làm những việc

And will have to do things
Lương tâm không muốn làm.
That your conscience does not want you to.

Ở nước ta hiện tại,

In your country nowadays,
Đừng nhắc đến chữ tài.

Don't even mention talent
Càng tài càng bị đánh,

The more talented, the more beaten down,
Hoặc bị tống ra ngoài.

Or it's banished outside.

Tôi khuyên như thế đấy.

I give this advice.
Tôi biết tôi nói gì.

I know what I'm talking about.
Không tin, hỏi cha chú.

If you don't believe me, ask your dad, your uncle.
Theo hay không thì tùy.

Follow it or not, it's up to you.

*


Một cơ quan nhà nước,

A government office,
Đút tiền mới được vào,

Slip some money to get in,
Thì không nói cũng biết

It goes without saying
Cơ quan ấy thế nào.

What this office will be like.

Thường người chui vào đấy

Usually those who squeeze in here
Phần lớn là bất tài.

Mostly are incompetent
Bất tài nên không thể

Incompetent so that they cannot
Và không dám làm ngoài.

Nor do they dare work outside.


Khi ở Việt Nam tôi không gặp một người có học thức nào mà không thấy khó chịu với tình trạng xã hội Việt Nam hiện nay.  Mà trách ai?  Tôi nghĩ có nhiều yếu tố, phần lớn gốc ở tính cách con người của bất cứ xứ sở nào, một phần cũng phụ thuộc vào tính cách con người Việt từ xưa đến nay.  Còn có một yếu tố nữa là chính phủ, nhưng nguyên liệu của chính phủ nào là con người.  Ở xứ Việt thì nguyên liệu ấy là con người Việt.

Trong một hệ thống đơn đảng thì đảng của chính quyền luôn luôn ca tụng các việc được thành công cũng điều chứng minh sự thành công của đảng ấy.  Nhưng các việc thất bại thì không phụ thuộc vào đảng ấy.  Một điều hay của hệ thống đa đảng là các phe đối lập nhau có khả năng chỉ trích và chê bai nhau.  Cái mình làm mà cho là thắng lợi, thì bên kia cho là thất bại - và ngược lại.  Tất nhiên tình hình này rất lộn xộn - nhưng trước khi bỏ phiếu dân phải suy nghĩ: thắng lợi / thất bại này có lợi / hại cho mình không?  Mình bỏ phiếu ủng hộ ai?  Có lẽ mỗi đảng phái hư nát như nhau, nhưng họ có khả năng làm nổi lên các tất xấu của nhau.

Bài thơ "Nhiều luật quá" nói đến tính quan liệu - một tính quan liệu có nhiều lớp, nhiều tầng, và nhiều luật để gây một khối sương mù che chở những kẻ quan chức không đứng đắn.  Được biết rằng họ được che chở thì họ càng tan nát.  Cố thẩm phán Tối cao Pháp viện Pháp Mỹ Louis Brandeis một lần nói "Sunlight is the best disinfectant."  Nghĩa là "ánh nắng là thuốc tẩy uế có hiệu quả nhất."  Việc "đóng cửa 'tự phê'" xây ra trong bóng sương mù, vậy nhiễm độc ở lại trong cơ thể của cơ chế.

Bài thơ "Đáng lo" nó đến một tính rất xấu phổ biên ở Việt Nam.  Một công chức đi chơi trong giờ làm việc là ăn cấp tiền thuế của dân.  Còn họ không được sống gần gia đình họ, hưởng dẫn các đứa con trong việc học hành và trưởng thành.  Họ không làm gương mẫu tốt cho thế hệ trẻ.  Song theo một ý nghĩa của chữ culture (mà thường được dịch sang tiếng Việt với chữ "văn hóa") thì culture / văn hóa cũng là "the behaviors and beliefs characteristic of a particular social, ethnic, or age group" - các hành động và tin tưởng đặc trưng của một thành phần xã hội, dân tộc, hay lứa tuổi nào đó.  Việc ăn nhậu là một nết rất đặc trưng của đàn ông Việt Nam, và cũng là một yếu tố trong sự sinh sống của nhiều phụ nữ Việt Nam.

Đọc bài "Không đi làm nhà nước" thì tôi thấy rất buồn.  Không có người với chí khí và đạo đức tốt muốn đi làm cho nhà nước, thì làm sao nhà nước được cải thiện?  Và tôi đã từng gặp những công chức nhà nước làm việc tốt và nhiệt tình.  Không hẳn là mỗi người đều xấu.  Nhưng ông thi sĩ này viết đúng - những công chức tốt chắc gặp nhiều khó khăn vì cái hệ thống quan liệu.  Đào tạo những người có khả năng quản lý nhất định không phải là dễ ở xã hội nào.  Đây là một lĩnh vực cũng cần đến nhiều "thuốc tẩy uế."

Ngày 06 tháng 04 năm 2014

Thực hiện triết để Đời Sống Mới (Completely Realize The New Life) (1946) - trích

Đời Sống Mới là một đời sống xây dựng trên ba nguyên tắc căn bản: Dân tộc, Dân chủ, Khoa học.  Nó không còn là một đời sống vô vị, vô ý thức, hay bừa bãi, bê tha.  Nó là một đời sống dản dị cần cù và có tổ chức.

Nó là đời sống của những người, của một dân tộc luôn luôn nhận thức rằng mình có Tổ quốc để phụng sự, có đồng bào để chung sống, có kế hoạch, có đường lối để làm việc và phấn đấu.  Đời sống ấy đã bắt đầu thực hiện với những thành tích vẻ vang của cuộc cách mạng tháng Tám.  Đời sống ấy hiện đang tiến triển theo một đà mau lẹ, theo một điệu nhịp nhàng từ Bắc vào Nam, từ hậu phương đến tiền tuyến.

New Life is a life built upon three fundamental principles: Nation, Democracy, Science.  It's no longer a life that's dull, non-ideological or dissolute, profligate.  It's a casual, diligent life that's organized.

It's the life of the people, of a nation that always realizes that they have a Fatherland to serve, that they have compatriots with which to share their lives, have a plan, have a path to do their work and to struggle. This life began to be realized with the glorious achievements of the August revolution.  This life is progressing at an agile pace, at a clip from the North to the South, from behind the lines to the front.

nguồn: Cứu Quốc 19 tháng 12 1946, 2.


Trong những năm sau có phong trào "con người mới."  Trong những ngày tháng sau cuộc khởi nghĩa năm 1945 có phong trào "đời sống mới."  Đời sống mới này theo hai trong ba ý then chốt trong Đề Cương Văn Hóa mà Trường Chinh vay mượn từ Mao Trạch Đông là "dân tộc" và "khoa học." Ý thứ ba là "đại chúng" được thay thế bằng "dân chủ."  Chắc chữ dân chủ được sử dụng vì Việt Nam Độc Lập Đồng Minh muốn làm nhỏ đi khái niệm cộng sản bao hàm trong chữ "đại chúng."  Một điều nữa là năm 1946 nước Việt Nam mới có nhiều đảng phái tham gia cuộc bầu cử, vậy những người mới sống được Đời Sống Mới này đã thực sự nếm mùi của nền "dân chủ."

Yếu tố chính của Đời Sống Mới là "phụng sự" Tổ quốc bằng hai cách là "làm việc" và "phấn đấu." Đời Sống Mới thì có từ "cuộc cách mạng tháng Tám."  Đời sống cũ thì có từ bao giờ?  Từ bốn nghìn năm?  Từ khi Pháp đổ hộ?  Trước cuộc cách mạng ấy thì đời sống miền đông xứ Đông Dương chỉ là "một đời sống vô vị, vô ý thức, hay bừa bãi, bê tha."

Đời Sống Mới này "có tổ chức," "có kế hoạch," và "có đường lối" rồi, miễn phải lo hay suy nghĩ nữa.  Không có ba thứ ấy thì đời chỉ thấy "vô vị, vô ý thức, hay bừa bãi, bê tha." Mỗi người chỉ phải "theo một điệu nhịp nhàng từ Bắc vào Nam."  Giản dị thật.

Ngày 04 tháng 04 năm 2014

Leçons de Violon, Violoncelle par Nguyễn Xuân Khoát (1937)

Leçons de Violon, Violoncelle
par
M. Nguyễn Xuân Khoát
ancien Répétiteur du Conservatoire d'E. O.
46, Rue Richaud -- Hanoi

nguồn: Ngày Nay #88 (5 décembre 1937) tr. 9.

Nguyễn Xuân Khoát chơi đàn contrabass, nhưng dạy đàn violon và violoncelle.  Chắc vì đàn contrabass hiếm quá và trình độ nhạc của được tốt tương đối thì ông dạy các loại đàn dây phổ thông.  Ông là "ancien Répétiteur du Conservatoire d'Extrême Orient" tức là "cựu thầy dạy kèm ở Nhạc Viên Viễn Đông."  Hiện nay rue Richaud là phố Quán Sứ.

Ngày 26 tháng 03 năm 2014

Vần thơ tình viết về một người đàn bà không có tên (A Love Rhyme Written For A Nameless Woman) - Lưu Quang Vũ

Khi em ngẩng đầu lên, anh biết đêm đã xuống,
    When you held your head up, I knew that night would fall
      Gió thổi qua biển lớn và mưa rơi trên
        Winds blow past great seas and rain falls
      những vòm lá rậm.
        upon the thick leafy vault

Khi em mỉm cười, anh biết những bông hoa nở
    When you smiled, I knew the bloom of blossoms,
      cánh trong im lặng, lũ trẻ nhảy đùa
        petals in silence, a pack of youngsters jumping around
      trên phố sớm.
        on the early morning street

Khi em để tay lên chốt cửa, giọt ánh sáng
    When you place your hand upon the door's bolt, a spot of sunlight
      chập chờn trong trí nhớ, anh thấy lại
        would flicker in my memory, again I saw
      chiếc găng cũ quên nơi tủ áo
        An old glove forgotten in your wardrobe
      Chuyến tàu dài đi ngang thị trấn cũ,
        A lengthy train voyage across the old city
      ở đó thằng bé trong anh chờ mong
        where the little one in me awaits
      mùa hạ đến.
        summer's arrival
Khi em tìm nắm ngón tay anh, đầy thất vọng
    When you clasped my fingers, full of disappointment
      nẩy sinh dòng nhựa mới
        up rose a new stream of sap
Khi em nhắm mắt lại, anh biết những con ngựa
    When you closed your eyes, I knew wild horses
      hoang đang đi trên đồng cỏ.
        trotting upon grassy fields
Khi em tựa xuống vai anh, lúa gặt về nóng rực,
    When you rested on my shoulders, harvest rice carried home in glimmering warmth
      con gái con trai hát lưng đồi nắng,
        lads and lasses sang on the sunny hillside
      mật độ tràn trên suối đất thơm.
        a density overflowing upon the streams of the rich land
Khi em quay mặt đi, tóc lòa xòa gáy lạnh,
    When you turned your head away, hair dangling thin and cold
      Anh biết đâu kia còn những giọt nước mắt
        I know someplace that still has teardrops
      Nỗi đau buồn xói lở những dòng sông.
        troubled sadness washes rivers away.
Khi em ra đi, anh biết có con đường đang dẫn
    When you left I knew there would be a road
      về phía trước.
        leading ahead.
Khi em soi vào tấm gương, anh biết
    When you looked into the mirror, I knew
      cuộc đời ta là một dấu hỏi dài.
        our lives have been a long question mark...


Một cuộc đời khá bình thường, nhưng khi nhìn vào thì có nhiều thứ đặc biệt và đầy xúc cảm. Có vẻ như người anh kể ra bài thơ này cảm thấy bé nhỏ trước hình dáng người đàn bà này. Mỗi cử chỉ của người em này gây ra một lượt hậu quả. Có các thứ đầy sức sống - "hoa nở," "lúa trẻ nhảy đùa," "con ngựa hoang," "nhựa mới," "lúa gặt về," "suối đất thơm." Có những cái nội tâm lầm lì, hoài cảm - "trong trí nhớ" với "găng cũ" trong "tủ áo," chuyến tàu qua "thị trấn cũ." Có những thứ sầu nữa - "tóc lòa xòa gáy lạnh," "nước mắt," "nỗi đau buồn."

Có hai đoạn mà hai người này chạm nhau. Cả hai đều gây kết quả tốt cho người kể bài thơ. "Khi em tìm nắm ngón tay anh" thì có "nhựa sống" nảy lên từ một nỗi "thất vọng."  "Khi em tựa xuống vai anh" được so với mùa gạt, một thời gian vui nhộn và đầy sản xuất.

Em không có tên. Một đàn bà bí hiểm? Hay một đàn bà quen, nhưng chưa thực sự quen biết. Không thể nào thực sự quen biết? Người suy nghĩ ra các ý ở trên đã có một mối quan hệ mật thiết với người đàn bà này.  

Người viết thơ này được quan sát sâu xa và biết các chi tiết của người đàn bà này. Rút cuộc thì "cuộc đời ta là một dấu hỏi dài." Dài ở đây có ý nghĩa là lâu, hay có ý nghĩa khó tìm hiểu đến. Người anh này là một người tỏ ra nhiều nhận xét tinh vi và sâu sắc. Vậy phải anh ấy có đầy đủ thông tin chứ? Tôi nghĩ rằng bài thơ nói đến cái khoảng cách giữa mỗi người, và kết luận rằng trong một cuộc tình có những khoảng cách rộng khó nối lại.

Ngày 23 tháng 03 năm 2014

Chương trình Ngày Giỗ Tổ tại thủ đô Hà Nội (1946)

Chiều

--4 giờ khai lễ.
--Kéo cờ.
--Tiếng quân ca.
4 g. 5 làm lễ - Chiềng trống.
Đại biểu Chính phủ đốt hương tràm (Mọi người hướng về ban thờ).
--Âm nhạc Hùng vương.
--Một phút mặc niệm các chiến sĩ trận vọng.
--Âm nhạc Hồn tử sĩ.

nguồn: Cứu Quốc 10 tháng 4 1946, 2


Mục trên chứng minh sự triển khai của cái mà hiện nay được gọi là "tin ngưỡng Hùng Vương." Chữ "tin ngưỡng" có nghĩa là các vua Hùng thuộc vào một "lòng tin theo một tôn giáo nào đó" (Từ điển tiếng Việt, Trung tâm Từ điển học Vietlex, 2007).  Theo các nhà sử, các truyện cổ tịch về vua Hùng được bịa đạt từ cuối thế kỷ 15 (thí dụ xem các bài của giáo sư Liam Kelley "Narrating an Unequal Relationship: How Premodern Viet Literati Explained their Kingdom's Relationship with 'the North'" (2011), 'The Biography of the Hong Bang Clan as a Medieval Vietnamese Invented Tradition', Journal of Vietnamese Studies (2012), và "Tai Words and the Place of the Tai in the Vietnamese Past" Journal of the Siam Study (2013).  Lễ Giỗ Tổ Hùng cũng là một truyền thống phát minh.  Nhà sử Tạ Chí Đại Trường cũng kể rằng truyền thống này bằt đầu từ năm 1917, chắc với người Pháp làm "bà đỡ" ("Hùng Vương và UNESCO: Trường hợp bán kèm một danh vị lịch sử" 2014)

"Chương trình Ngày Giỗ Tổ" năm 1946 là lần đầu tiên một quốc gia Việt Nam được tổ chức một lễ kỷ niệm các nhân vật vua Hùng xưa.  Truyền thống Nho giáo đòi hỏi cung đình phải làm lễ, phải có nhạc lễ do ban Đại Nhạc trình bày.  Vậy "Tiến quân ca" được cử lúc kéo cờ để mở đầu lễ này, chắc do dàn nhạc kèn của Ban Nhạc Vệ Quốc Đoàn thể hiện.

Rồi lúc "làm lễ" có đoạn "chiềng trống."  Tôi nghĩ rằng nhạc này được phóng theo nhạc "dân tộc" Đây có phải là chiềng của người Mường? - làm sao có nhạc cụ Tây Nguyên lên miền Bắc.  Nhưng chắc chắn nhạc chiềng trống này gợi ý của thời xưa, thời tổ tiên.

Lễ này tiếp tục lúc "Đại biểu Chính phủ đốt hương tràm" với nhu cầu "Mọi người hướng về ban thờ."  Rồi kế tiếp chương trình là "âm nhạc Hùng Vương."  Lúc bấy giờ chỉ có một tác phẩm âm nhạc được phổ biên với đầu đề "Hùng Vương" là một bài ca cùng tên của Thẩm Oánh sáng tác lúc ông và các bạn đi xe đạp trẩy hội Đền Hùng từ những năm 1930, 1940 gì đó.  Nội dung bài ca này rất hợp với thông điệp của lễ này: "Bốn nghìn năm văn hiến / Nước Nam khang cường là nhờ công đức Hùng Vương."

Để trở về đến hiện tại, chương trình này có "Một phút mặc niệm các chiến sĩ trận vọng."  Cùng thời mà chính phủ Việt Nam đang điều đình với chính phủ Pháp ở Bắc có lính Việt Nam chết trong kháng chiến ở miền Nam.  Vậy đoạn nhạc lễ này kết thức với bài ca "Hồn tử sĩ" của Lưu Hữu Phước và Hồng Lực.

Chắc là mục dài nhất của chương trình này là đoạn "diễn văn."  Có đại biểu phải có phát biểu.  Chương trình này kết thức "âm nhạc cử những bài ca hùng."

Ngày 21 tháng 03 năm 2014

thêm tấm ảnh từ Hugh Manes Collection



























































Bắt giặc Mỹ phải đền tội



Nam Ngạn Hàm Rồng chiến thắng giặc Mỹ xâm lược























nguồn: Hugh Manes Collection, Vietnam Center and Archive.