Ngày 17 tháng 06 năm 2016

Xóm đêm (Hamlet At Night) - Phạm Đình Chương (1957)

boléro

Đường về canh thâu.
On the way back through the long night watch
Đêm khuya ngõ xâu như không mầu qua phên vênh có bao mái đầu hắt hiu vàng ánh điện câu.
At midnight the lane's deep, almost colorless, passing buckled bamboo lattices, how many heads in the soft golden breeze in tapped electric light
Đường dài không bóng.
On the long road nary a shadow.
Xa nghe tiếng ai ru mơ màng.
Afar the sounds of a dreamy lullaby
Mưa rơi rơi xóa lối đi mòn.
Rain falls to erase the worn out path
Có đôi lòng vững chờ mong.
A pair of steady hearts both await.

Ai chia tay ai đầu xóm vắng im lìm.
Someone bid farewell to another at the edge of this deserted, silent hamlet
Ai rung lên tia mắt ngàn câu êm đềm
Who stirs glowing eyes with thousand calm statements
Mong sao cho duyên nghèo mai nắng gieo thềm.
Can one hope for a destined love in poverty where sunlight is sown across the veranda
Đẹp kiếp sống thêm.
Beautiful for a next incarnation.

Màn đêm tịch liêu.
Night's curtain all alone
Nghe ai thoáng ru câu mến trìu
Hearing someone, their fleeting lullaby of affection
Nghe không gian tiếng yêu thương nhiều
Feeling in the air the sound of so much love
Hứa cho đời thôi đìu hiu.
A promise for life to end its gloom

Đêm tha hương ai vọng trông
At night in an unfamiliar land, someone awaits expectantly
Đêm cô liêu chinh phụ mong
At night all alone the warrior's wife hopes
Đêm bao canh mưa âm thầm theo gió về khua cơn mộng hẹn mai ánh xuân nồng.
At night so many watches, gloomy rain follows wind to stir up the dream promising a bright, warm spring for tomorrow
Cho nên đêm còn dậy hương để dìu bước chân ai trên đường để nhìn xóm khuya không buồn vì người biết mang tình thương.
Therefore the night's strong fragrance guides someone's steps on the road to see the midnight hamlet that's not sad because someone has loving feelings.


nguồn: Phạm Đình Chương, "Xóm đêm" (Saigon: [Tác giả], 1957).


Nhiều lần nghe bài ca "Xóm đêm" tôi cứ tưởng là miêu tả cảnh nông thôn, xóm làng.  Nhưng đọc của Du Tử Lê viết tôi mới hiểu đây là xóm lao động - một khu nhà nghèo. (xem "Ca khúc “Ly rượu mừng” phẩm-vật-tinh-thần trong truyền thống Tết Việt Nam," Người Việt 11 tháng 5 2011).

Xóm của "Xóm đêm" đều nghèo, tối, âm thầm.  Có "bao mái đầu" nhưng ban đêm "xóm vắng im lìm."  Chắc dân xóm sống chật ở từng nhà, nhưng đêm khuya đường xóm vắng.

Lời ca này rất lờ mờ về nhân vật - "ai" là ai?  Một "ai" là em, một "ai" là anh.  (Những "ai" nữa là một người mẹ, người bà ru con).  Ngôi ai/em là một cô nhà nghèo, ngôi ai/anh là một chàng trai chắc khá giả hơn, và được học thức nữa.  Ai/anh là người giang hồ (con bướm - ai/em là hoa).

Nhịp boléro gây người nghe gợi nhớ miền đồng quê Việt Nam.  Bài ca này phụ thuộc vào giai đoạn "dân ca mambo."  Song sinh hoạt trong bài ca này không miêu tả xóm làng nhộn nhịp như cái gọi là dân ca mambo.  Đây là một xóm "đìu hiu," một xóm "tịch liêu" (một chữ rất văn chương).  Vậy vùng nông thôn có người em gái là "người biết mang tình thương."

Một chàng trai gốc thành thị đang giang hồ đi vào khu người lao động gặp một cô nàng ngheò nhưng duyên dáng.  Nàng đợi chàng, nàng là chinh phụ sẵn sàng đợi mãi.  Chàng cứ phải lang thang nhưng đang trên đường về ban đêm qua các xóm nghèo.

Biết nàng đang đợi mong, nhưng chàng thực tế.  "Mong sao cho duyên nghèo mai nắng gieo thềm. / Đẹp kiếp sống thêm."  Kiếp này không tạo điều kiện cho "duyên nghèo" này.  Không biết điều kiện ở đây là đời sống giang hồ (giang hồ vì nghệ nhiệp, vì nhập ngũ, vì đi học ở xa, vì mạo hiểm, vì chơi bơi?)  Hay điều kiện mà anh chàng này thiếu là sự đồng ý của bố mẹ?

Lời ca "Xóm đêm" có văn chương cao, giai điệu thì đẹp và dễ thuộc.

Ngày 12 tháng 06 năm 2016

Tôi đã cố bám lấy đất nước tôi (I've Tried To Cling To My Land) - Hồng Ngọc [tức là Nguyễn Đình Toàn] (ca. 1979?)

Tôi đã cố bám lấy đất nước tôi
I've tried to cling to my land
Bằng sức người vô hạn
With the strength of someone limitless
Bằng sức người đầu đội trăm tấn bom
With the strength of someone's head bearing a 100 pound bomb
Tim mang nghìn dấu đạn
My heart bears thousands of bullet holes

Tôi đã đổ mồ hôi đổ máu tươi
I pour out sweat of fresh blood
Để mong ở lại đây
To hope to stay here
Dù thế nào cũng ở lại đây
In order to somehow stay here

Nhưng đất đã đỏ vì bị nung bằng những lời dối trá
But the earth has reddened because it's been baked with words of deception
Người bám vào lửa đã đốt cháy tay
People cling to flames that have burned their hands
Lửa hờn căm
Flames of hatred
Lửa hiểm thâm
Flames of evil
Lửa khốn cùng cay đắng
Flames wretched and bitter
Người lừa nhau trời đất còn bưng mặt thảm thương
People deceive one another, heaven and earth with sorrowful visage are heart-rending
Ba mươi năm cuộc tương tàn chưa đủ
Thirty years of mutual destruction weren't enough
Người giết người không kịp mở mắt trông
People killing each other with no time to open their eyes to see
Ba mươi năm mạng người như rác cỏ
Thirty years, people's lives like discarded weeds
Dây hoà bình còn thắt cổ người tin
The thread of peace strangles the necks of believers

Khăn tang nào che ngang đầu những kiếp người một đời giông bão
What mourning veil covers the heads of the fate of people, lives in the storm
Trông binh lửa
Look at warfare
Giữa oán thù
Midst enmity
Hằng cầu mong đến khi bình an
Every wish comes with peace
Ai đâu ngờ sau tiếng súng
Who would suspect that after the sound of guns
Đời lại thêm một thời nát tan
Life would have another time of destruction
Non sông buồn
Sad mountains and rivers
Đã điêu tàn
Have been ruined
Thêm máu lệ chứa chan một lần
For blood and tears overflowing for a time

Bao thây người như cây rừng khắp chốn giờ còn hằn in bóng
How many corpses like forest trees everywhere now leave tracks of their image
Đêm oan hồn
Nights of those who died unjustly
Đêm điên cuồng
Nights of madness
Còn chảy tuôn máu chưa hề quên
Still flow blood that will never be forgotten
Nửa nước này đã cố giết một nửa kia để lập chiến công
Half this country tried to kill the other half to establish a feat of arms
Ai đau lòng
Who is pained
Ai vô tình
Who's indifferent
Ơi sách sử dấu xưa anh hùng
Oh history books with the heroism of long ago

Tôi đã cố bám lấy đất nước
I've tried to cling to my land
Tôi bằng sức người đã kiệt
I with the strength of one who is spent
Bằng sức người đã tả tơi ước mơ
With the strength of one with tattered dreams
Tay chân dường rủ liệt
Hands and legs like they're numb
Tôi cố đợi ngày Việt Nam tái sinh
I wait for the day Vietnam is reborn
Trong sông bể yêu thương
In beloved rivers and oceans
Cho dấu lòng đã bạc lòng mong
So the heart's scar has faded all hope


Bài hát này xuất hiện trên băng của Khánh Ly tên là Tắm mát ngọn sông đào (Westminster: Thanh Lan, 1982). Trên bia băng có lời:

Khánh Ly - Tắm Mát Ngọn Sông Đào.  Những bài hát được viết tư quê hương khổ đau, bí mật gửi ra nước ngoài, của các tác giả lừng danh Việt Nam làm chấn động dư luận 1981. 
Vì sự an nguy, những tác giả trên đã tạm chọn những bút hiệu khác, thay vì bút hiệu quen biết với quần chúng của mình.

Đây là một tác phẩm sáng tác ở nhà tù Việt Nam được gửi sang nước Mỹ.

Bài ca này mô tả tình trạng Việt Nam thời chiến và thời hậu chiến - "Ai đâu ngờ sau tiếng súng / Đời lại thêm một thời nát tan."  Có rất nhiều người miền Nam chỉ mong được một đất nước hòa bình - "Hằng cầu mong đến khi bình an."

Dù "cố bám lấy đất nước" rất nhiều người Việt quyết định vượt biên tìm một lối sống mới.  Ở nước ngoài họ cứ "cố đợi ngày Việt Nam tái sinh."
 

Ngày 06 tháng 06 năm 2016

Quán nửa khuya (Inn At Midnight) - Tuấn Khanh và Hoài Linh (1961)

Quán nửa khuya đèn mờ theo hơi khói, trút tâm tư vào đêm vắng canh dài quãng đời tôi: 
Inn at midnight, dim lights like the smoke, pouring forth thoughts to the empty night through the long watch of this stretch of my life
"Tầu đêm vắng không người"vẫn lặng trôi.
"The empty train with no one" still quietly rolls.
Tôi là người tha hương đi bốn phương 
I'm a person from other parts travelling anywhere
Anh là người quân nhân vui gió sương, 
You're a soldier happy in the wind and fog,
Câu chuyện tâm tình vui theo khói bay. 
Stories of happy feelings like flying smoke.
Tay cầm tay.
Hand in hand.

Nói bạn nghe từ khi say viễn xứ gót chân in ngàn muôn lối sông hồ, áo sờn vai tìm đôi mắt u hoài bóng hình ai.
I tell you that since I've had a passion for distant lands, my feet had made a million trails along rivers and lakes, frayed shirt on my shoulders looking for a pair of gloomy eyes, someone's image
Hoa nào mà không phôi pha sắc hương
There's not a flower that doesn't lose its color and fragrance
Ân tình nào mà không gây vấn vương
There's no kindness that doesn't rouse a fascination
Lê đôi gót trên khắp chốn ngàn phương để tìm thương.
Heels dragging throughout locales to find feelings

Dĩ vãng tìm đâu thấy như bóng mây chiều đang lững lờ theo gió bay.
Where is the past, it feels like the shadow of evening clouds suspended, following the blowing winds.
Cố xóa tình xưa ấy ngân tiếng tơ chùng để tìm quê hương đắng cay.
Try to erase that olden love, vibrate slackened silk strings to look for a bitter homeland
Muốn nhắn nhủ thời gian ai mãi phong trần để đi tìm hương cố nhân.
Want to remind time that someone is always in the elements looking for the fragrance of an older lover
Áo trắng màu sương gió ngưng gót xuôi ngược để tìm về nơi bến mơ.
A white blouse, fog and wind stop the heel from turning back to return back to the dream's dock.

Quán nửa khuya, bạn tôi chia tay nhé nhớ nhau chăng là mỗi lúc đêm về,  xiết chặt tay để ghi phút phân kỳ tiễn người đi.
Inn at midnight, my friend lets separate, remember each other whenever night returns, clasp hands tightly to record the moment of parting, seeing someone off
Sa trường anh lại đi vui gió sương
At the battlefield you go happily into wind and fog
Sông hồ gợi trong tôi bao luyến thương
Rivers and lakes arouse in me so much affection
Tôi ghi nhớ giây phút ấy nào nguôi bạn đường ơi.
I record the moments, could they ever subside, my friend on the road.

nguồn: Tuấn Khanh và Hoài Linh, "Quán nửa khuya," (Saigon: Tinh Hoa Miền Nam, 1971) [in lại]

Duy Khánh ca "Quán nửa khuya," đĩa Tân Thanh 4-861, thâu năm 1961

Thời Việt Nam Cộng Hòa thời thời chiến suốt.  Quân nhân tình cờ gặp kẻ bụi đời.  Hai người đều sống xa nhà.  "Quân nhân vui gió sương" nhưng chắc kẻ giang hồ cũng thế.  Nghĩa là hai người bạn mới quen cũng thích phiêu lưu.  Như vậy việc nhập quân được thích thú nhiều hơn.

Đoạn điệp khúc là cao điểm của bài ca này.  Nhưng kẻ giang hồ "tha hương" vì "dĩ vãng," vì một cuộc tình không thành.  Người ấy muốn "Cố xóa tình xưa ấy."  Hai bạn mới tâm sự về điều đó. Thực sự bài ca cho người nghe biết rất ít về người lính này.  Có lẽ lúc nhập ngũ là lần đầu tiên người lính ấy được xa nhà, được gặp những người mới lạ.

Ngày 27 tháng 05 năm 2016

hát quốc ca chay

Trên mạng có bão tố xây ra vì ca sĩ Mỹ Linh hát quốc ca Việt cho ông tổng thống Mỹ nghe.  Cách hát của Mỹ Linh bị chế là "thiếu hào hùng, mất sức sống."   Đây là ý của một bài không đăng tên tác giả trên trang của PetroTimes 27 tháng 5 2016 là "Quốc ca không phải để ca sĩ Mỹ Linh mang ra làm trò đùa!"

Người Việt vốn hát quốc đã "Thề phanh thây uống máu quân thù."  Như thế rất hào hùng và dư thừa sức sống.  Hát như vậy, thời mà Việt Nam đang chiến tranh để tồn tại thì không phi lý.  Lúc mà độc lập được giành thì nhà nước Việt Nam cũng suy nghĩ thêm về thái độ dư thừa hào hùng của lời ca trên.

Một quốc ca có vai trò nội bộ, song nó cũng có vai trò ngoại giao.  Bài ca này đại diện cho một quốc gia.  Năm 1956 Bộ Truyên Tuyền công bố thay một số lời ca của quốc ca "có một số chữ và một số câu không được rõ nghĩa và có thể bị hiểu lầm" (xem "Báo cáo của Bộ Tuyên Truyền về quốc kỳ, quốc ca, quốc huy," Nhân Dân (17 tháng 9 1956), trang 1).  Nghĩa là họ không muốn các nước bạn nghĩ là dân Việt ưa "phanh thây uống máu" bất cứ ai.

Bài phê bình Mỹ Linh cũng cho là "Quốc ca Việt Nam là ca khúc được cả dân tộc tôn vinh bao đời nay."  Còn rất nhiều người Việt đã sống trong một thời tiền-quốc ca.  Rồi có rất nhiều người Việt ở miền Nam chưa hát bài "Tiến quân ca" đến sau năm 1975.  Rồi có thêm những người thuộc dân tộc Việt ra khỏi nước năm 1975 mà chưa lần nào hát bài quốc ca này.  Còn nữa có một thời gian sự "tôn vinh" của quốc ca và tác giả bị giảm khi mà nhà nước Việt không còn đăng tên tác giả trên trang báo và tổ chức một cuộc thi để tìm một bài ca mới thay thế "Tiến quân ca."  Lịch sử của một bào quốc ca lúc nào cũng phức tạp.

Bài viết của PetroTimes cũng có đoạn hết sức lố bịch này:
Hoặc nếu có hát phá cách đi thì ca sĩ cũng phải được sự đồng ý của tác giả chứ không thể tùy tiện hát theo ý mình như vậy.  Ở đây, khi hát biến tấu Quốc ca, Mỹ Linh đã được sự đồng ý của tác giả hay chưa?! Chắc chắn là chưa!
Tiếc là tác giả của bài viết này không biết rằng Văn Cao không còn hít thở trên quả cầu này để được đồng ý hay không đồng ý.  Nhưng Văn Cao là một con người sáng tạo, vậy chắc ông cũng tôn trọng sức sáng tạo của người khác. Không ai có thể đặt lời nói của một người quá cố, nhưng theo tôi nghĩ Văn Cao sẽ rất mừng khi nghe Mỹ Linh hát đứa con tinh thần của mình một cách mới mẻ, một cách cũng có sức sống riêng.

Bên nước Mỹ của Obama thì bài quốc ca được coi như là bài ca của mỗi người.  Người nào cũng thể hiện bài "Star Spangled Banner" theo phong cách riêng của mình.  Nhiều người có ý khác nhau về những ai đã thể hiện "Star Spangled Banner" thành công nhất.  Bài này là một thí dụ - xem Caroline Schaffer, "10 Amazing Renditions of the Star Spangled Banner Prove It Is Still One Of the Most Beautiful Songs" báo Independent Journal.  Coi các video để thử xem.  Muốn cho một tác phẩm thực sự được tôn vinh thì phải ủng hộ những người nghệ sĩ như Mỹ Linh đi khám phá một khía cạnh khác của tác phẩm ấy.

Trong một cuộc gặp gỡ thân mật giữa hai nước bạn tại sao phải nhấn mạnh rằng đất nước mình là một đất nước hùng mạnh?  Người Mỹ đã từng nghe đến chiến công của quân đội Việt Nam.  Chắc chắn Obama thưởng thức phong cách hát của Mỹ Linh hơn nghe thêm một dàn nhạc và tốp ca quân đội biểu diễn với kèn, trống, các giọng hát bel canto.  Khi cho nghe quốc ca thì có nên ứng ý chủ nhà hay khách?

Ngày 26 tháng 05 năm 2016

2 bài thơ Tổng thống Obama thăm Hà Nội của Dân Huyền (2016)

1- Tổng thống Mỹ Obama
American president Obama
Đến Hà Nội thưởng thức quà Việt Nam
Came to Hanoi, enjoyed a Vietnamese snack
Bún chả chẳng phải quà sang
Noodles with grilled meat isn't a noble snack
Mà quà dân tộc dân gian bao đời
But a snack of the people for many ages
Tổng thống khoái chí ngồi xơi
The President is satisfied to sit and imbide
Uống bia Hà Nội vui cười với dân
He drinks Hanoi beer, happily laughing with the people
Một Tổng thống rất dễ gần
A president who's very sociable
Biết chọn bún chả là thần quà quê.
Knew to chose noodles with grill meat, the homeland's wonderful snack


2- Hàng bún chả Lê Văn Hưu
The Lê Văn Hưu noodle with grilled meat stand
Tối nay tấp nập dập dìu người ăn
Tonight it's bustling with diners
Lại được đón bạn tri âm
Able to great a bosom friend
Tổng thống Mỹ thành người thân của mình
The American president has become our close friend
Ông ăn bún chả ngon lành
He eats delicious noodles with grill meat
Uống bia Hà Nội cũng sành điệu ghê
Drinks Hanoi beer, what a connoisseur
Obama ai cũng mê
Obama, everyone's crazy about him
Gần dân vui chuyện chẳng hề cách ngăn.
Close to the people, happily conversing, never kept apart

DÂN HUYỀN - đăng trên trang Facebook cá nhân ngày 24 tháng 5 2016

Cách làm chính trị Mỹ khác với Việt Nam.  Dù lớn lên trong hoàn cảnh nào, làm nghề nào trước khi lên chức, một chính trị viên Mỹ phải tìm cách để đi gần dân thường.  Một chính trị viên Mỹ phải làm những cử chỉ chứng minh rằng mình là một người dễ gần, một người mà các người bỏ phiếu muốn gặp và nói chuyện và uống bia với nhau.  Một chính trị viên Việt Nam không cần thiết phải làm như thế.

Ngày 23 tháng 05 năm 2016

Nhạc Tiền Chiến: The Origins of Vietnamese Popular Song - Jason Gibbs

(lời chú thích: Bài này đã cũ 20 năm rồi. - lâu năm được đăng trên trang Things Asian.  Họ xóa thì tôi đăng lại ở đây)

originally delivered at the 1996 meetings of the Society for Ethnomusicology, Northern California Chapter, Davis, California].

By the 19th century Vietnam found itself forcibly and irrevocably confronted with the Western world. As this foreign presence intensified, the elite, ruling and mandarin classes insularly maintained a Confucian view that through their superior culture, civilization, and upright behavior they had the moral standing to defeat any foe. That outlook was shattered with a series of French military victories, culminating in the defeat, in 1873, of Hanoi's citadel and its 7,000 Vietnamese defenders by 200 far better armed French soldiers. By the turn of the century France had consolidated Vietnam under its control and was rapidly opening the region to its economic and cultural prerogatives.

From the beginning the Vietnamese resisted the French, at first viewing their colonizers as barbarians, but in time they came to realize that the military might and economic wealth of the West far surpassed anything they had previously imagined. More and more Vietnamese came to believe the only way that Vietnam could escape colonization was to learn Western ways. Starting from the turn of the century, while many of their Confucian elders went into isolation, the still tiny Vietnamese professional class began adjusting to the alien culture by studying French and "quoc ngu" (the romanization of spoken Vietnamese). They began translating western ideas ranging from Western philosophy to agricultural methods into Vietnamese. By the 1920s and 1930s literacy became widespread, owing to the popularity of "quoc ngu" and the literature it spawned.(see note 1)

After World War I, French entrepreneurs started trading very energetically producing an economic boom hastening the advance and influence of Western thought. The 1920s represent a decade when Vietnam began to finally break from its Confucian tradition and embrace Western thought. One illustration of this can be seen in a story that composer Pham Duy tells about his father Pham Duy Ton, thought by some to be the originator of the modern Vietnamese short story. Pham Duy Ton born in 1881, graduated from the school for interpreters, worked for the Indochina Bank, as a journalist, and in various other small business ventures. He was among the first generation that took the daring step against tradition to cut off the chignon that a well-born gentleman kept in memory of his deceased father, and also dressed in western clothing. He died young in 1924, his son Pham Duy speculating that this was because of a curse from his grandmother for defying tradition by cutting his hair. While his father was of the generation that took the first steps of breaking with tradition, Pham Duy and his contemporaries were prepared and eager to meet the modern world. (see note 2)

Neil Jamieson describes this generation as "a social force wielding innovative kinds of influence based on new and modern skills... In urban centers during the 1930s, especially in Hanoi, there was a sudden and self-conscious rush to replace the old with the new, to Westernize, to be modern."(see note 3) Owing to the popularity of Western novels, an energetic new romantic "quoc ngu" literature emerged in 1925 and expanded greatly in the 1930s. At the same time an art school, the Ecole des Beaux-Arts de l'Indochine, opened in Hanoi heralding a new movement of Western-influenced painting. This is the context out of which nhac tien chien, or "pre-war music" was born.

As Bruno Nettl has noted, the first contact that most non-Western cultures have with Western music is through church and military music. Vietnam is no exception in this regard. The Catholic Church encouraged western music and also served as a training ground for many composers. Military bands also trained Vietnamese musicians. In the beginning the music was performed for and by Westerners, but as time went on more and more Vietnamese began to participate in these activities. (see note 4)

In the years following World War I, French patriotic songs like "La Marseillaise" or "La Madelon" became popular in Vietnam. These songs were first heard by Vietnamese during the cai luong, or reformed, theatre of southern Vietnam in the late 1910s and 1920s. Such performances would often include two music ensembles -- one of traditional instruments, one of western instruments, the latter performing during entr'actes as well as before and after the play. Itinerant street musicians (hat xam), whose livelihood depended upon playing music with the greatest currency interspersed these western melodies among their traditional repertory. (see note 5)

French songs became increasingly popular in the cities owing to the spread of sound recording technology. 78 r.p.m. recordings and the radio remained inaccessible to many because of their expense. But even those who found these recordings beyond their means could hear the latest "a la mode" French songs by gathering outside record stores. However, the strongest forces leading to the popularization of French songs were the introduction of ballroom dancing and sound motion pictures in the early 1930s. Singers from the French cinema like Josephine Baker (singing "J'ai Deux Amours" and "Ma Petit Tonkinoise"), Rina Kelly, and George Milton were all popular. Tino Rossi, best known for singing Vincent Scotto songs like "La Marinella" became a special favorite, to the extent that there were "Tino fan clubs" (hoi ai Ti-no). (see note 6)

The first indigenous attempts at Western-styled popular song came in the mid-1930s with a movement known as "bai Ta theo dieu Tay" (or "our words following Western melodies"). Soon fashioning words to French popular songs became the height of fashion. The newly fashioned lyrics turned up as pamphlets, in the newspapers and at the end of dime novels. The Beka record company recorded two cai luong performers Ai Lien, and Kim Thoa singing these songs on 78s. In many cases, the lyricist was less than fluent in French leading to some Vietnamese lyrics being almost opposite in meaning with the French original. (see note 7)

Most commentators trace the beginning of modern Vietnamese song to a performance by Nguyen Van Tuyen of his original compositions in Hanoi on June 9, 1938. Although several composers had written songs before that date and even performed them within their circle of friends, Tuyen's performance marks the first public, reviewed presentation of original songs. Tuyen, born in Hue, studied western music from his youth, teaching himself the rudiments from French music theory textbooks. In 1936 he moved to Saigon where he was the only Vietnamese student enrolled at the Philharmonic Society of Saigon. He began to sing French songs and was favorably received by the press and on the radio. In 1937 he solicited poems from his friends and wrote his first songs. The actual first performance of his songs took place in Saigon where they were performed at the Philharmonic Society. The governor of Cochinchina, Pages, heard him sing there and invited him to travel to France to continue his music studies, but Tuyen had to refuse for family reasons. Instead he requested and was granted the governor's support in making a tour of Vietnam to promote this new music. (see note 8)

While some contemporaries reported that his Hanoi concert was a mixed success, owing to Tuyen's Hue accent and to noise from the large and restless crowd, this new musical movement was lionized by the influential paper Ngay Nay which published some of Nguyen Van Tuyen's compositions as well as works by other composers. (see note 9) He repeated his performance in Haiphong and Nam Dinh to enthusiastic audiences.

Most of the first generation of Vietnamese composers had very restricted access to western music education. Many like Nguyen Van Tuyen studied from French music theory primers. Others studied through the Sinat or Universelle correspondence courses based in France, at Catholic schools, or through private lessons taken with French, White Russian, or Filipino teachers. The French opened the Conservatoire d'Extreme Orient in Hanoi in 1927, but shut it down in 1930 owing to the worldwide economic depression. The first musicians who were able to study, in turn became the teachers for those who followed. (see note 10)

New songs started to spread around the country, but were especially popular in Hanoi. Two important groups propagating this music were formed around 1938: Myosotis (French for Forget-Me-Not) with composers Tham Oanh and Duong Thieu Tuoc as principals, and Tricea consisting of Van Chung, Le Yen and Doan Man. Both of these groups wrote, published and organized the performance of their songs. Pham Duy, writing about the Hanoi of his youth, notes the popularity of songs by the above composers as well as by Le Thuong and Van Cao from Haiphong, and Dang The Phong from Nam Dinh. (see note 11)


An advertisement for Duong Thieu Tuoc's musical instrument shop (1941)

In his memoirs, Pham Duy describes his experience, at first as a manager, but soon as a singer of new songs with the Duc Huy cai luong troupe in 1944 and 1945. The troupe's director came to know that he could sing and play guitar, so he was added to the show, where he sang during breaks in the action. This gave him the opportunity to publicize the new songs throughout the country. He met new composers in almost every city along the way, and often found that the word of mouth that preceded his arrival brought in fans expressly interested in this new musical movement. (see note 12)
During the 1940s, there were a large number of patriotic songs composed, mostly modeled after marches and French military band music. The Communist Party saw the propaganda value of such songs very early. In 1926 they translated "The International" into Vietnamese and by 1930 they were using original revolutionary songs in their organizing. (see note 13) However, the songs with the greatest popularity were from the Dong Vong (Resound) movement of Hoang Quy and the Tong Hoi Sinh Vien (General Association of Students) movement of Luu Huu Phuoc from the 1940s. During that time, several of the composers from Myosotis and Tricea also contributed patriotic music. This movement was partially a reaction to the over-sentimentality of romantic literature and song, but gained much of its strength from the Boy Scout program and from the physical fitness program instituted by the Vichy France government in then Japanese-occupied Vietnam. Patriotically minded youth also organized hikes and bicycle excursions to historic monuments. (see note 14)

Pham Duy in 1944

Although most are not recorded or performed on the concert stage today, these marches and songs made a strong impression at the time among young Vietnamese yearning for their country's independence. "Tieng goi thanh nien" ("Call of the Youth") by composer Luu Huu Phuoc, with the alteration of some words, became the National Anthem of the future South Vietnam with the title "Tieng goi sinh vien" ("Call of the Students"). The song "Tien quan ca" ("Onward Soldiers") by Van Cao in 1945 became the National Anthem of North Vietnam. Another important composer from this movement, Do Nhuan, wrote his earliest songs from a French prison. (see note 15)

Both the romantic and patriotic song movements continued until 1954 when the Geneva Accords divided the country in two. From 1946, many composers went to the war zone to write songs for the Viet Minh resistance against the French. In French-occupied urban areas both patriotic and romantic music continued to be performed side by side on the radio, in dance halls and in taverns. In 1950, Radio Hanoi's Viet Nhac magazine published a playlist of over 300 Vietnamese songs they had broadcast including both romantic songs and songs newly composed for the resistance combatants in the mountains and jungles. By the time they went off the air in 1954 they had broadcast over 2,000 works by over 300 composers. (see note 16)

While this movement of new Western-influenced songs took off like wildfire among urban, educated youth, it was disliked and resisted by older feudalistic intellectuals, and largely ignored by the poor and rural citizenry. (see note 17) One contemporary commentator wrote in 1942 in the French-language magazine Indochine that:
The youth of the city and provincial capitals, especially students, completely look down upon the songs of our country and insanely chase after French songs. They are afraid of being seen as ridiculous, or as bumpkins if they hum to themselves Vietnamese folksongs ...
He goes on to blame:
... films and French music, the scouting movement with its lively songs, music of neighboring countries, and finally the songs composed by our own artists that are wiping out the old songs. (see note 18)
Despite this alarm, a substantial number of the composers of these new songs studied traditional instruments when they were young. Composer Nguyen Xuan Khoat, one of the first Vietnamese to receive a western musical education, devoted a great deal of energy into notating and studying traditional Vietnamese folk songs, as well as hat cheo, a popular music theatre of northern Vietnam, and hat a dao, a refined chamber singing tradition. Pham Duy is very well known for research on folk songs and as a composer of new folk songs. (see note 19)


Sketch of Nguyen Xuan Khoat by Hoang Lap Ngon

The earliest name for this new genre was nhac cai cach, meaning reformed music. (see note 20)One reason "reform" was needed was because of the low status music held in Vietnam. From feudal times came the saying about performers: "xuong ca vo loai" or "singers fallen from social standing." In order to avoid such scandalous associations, educated Vietnamese usually played chamber music in private homes, called nhac tai tu or music of talented amateurs. Tham Oanh described his Myosotis group as a talented amateur ensemble, no doubt wishing to avoid the stigma of being viewed as professional performers. (see note 21) Before Nguyen Van Tuyen's concert in 1938, other composers may have hesitated to present their songs because of this negative reputation. Nguyen Van Tuyen was possibly able to skirt this difficulty because the French governor had sponsored him.

Tham Oanh in a 1952 speech about the "evolution" of Vietnamese music asked his audience to consider the higher status accorded to music and the development of new musical forms in Europe, America, and in Vietnam's Asian neighbors. Emphasizing music as a basis to judge the intellectual level of a people, he affirmed the importance of this new musical movement that aimed to develop Vietnamese music to a level that would bring respect to the country. (see note 22)


On a boat on the Perfume River in Hue, 1951. In the back is Van Giang / Thong Dat (composer of the song Ai Ve Song Tuong), the man next to him (slightly blocked) is Duong Thieu Tuoc, the woman facing the camera is Minh Trang (Duong Thieu Tuoc's 2nd wife), the woman with her back to the camera is Moc Lan (famous singer of that time), the man with his back to the camera is the music publisher Le Mong Bao.

In more recent years these songs have come to be called nhac tien chien, or pre-war music. This appellation probably came about as an imitation of genre named tho tien chien, or pre-war poetry, the name used in South Vietnam after 1954, where the poetry remained very popular. Although Vietnamese music historians have the tien chien period ending in 1946 or 1947 with the resumption of hostilities with the French, some songs associated with this genre were written as late as 1954. (see note 23) While they continued to find a loving audience in the South, the nhac tien chien songs were, although not banned outright, absent from the stage and airwaves of North Vietnam from 1954 until the 1980s.

Some Northern musicians I met questioned the usefulness of the name "pre-war songs." One asked "which war? We've fought so many wars." One politically correct designation I heard for these songs was "dong am nhac lang man truoc Cach Mang Thang Tam" or the "current of romantic songs before the August Revolution." (see note 24)Whatever their designation, these songs continue to be popular among Vietnamese, both overseas and in Vietnam, especially among the older generation. They are regularly performed at the concert hall of the Hoi Nhac Si Viet Nam (Vietnamese Association of Musicians) in Hanoi under the appellation nhac tru tinh or lyrical music. When this Association in 1994 presented a festival commemorating 50 years of Vietnamese song, these songs were well represented. (see note 25)

Nhac tien chien songs carry with them an air of nostalgia, perhaps nostalgia for an era when Vietnam was still unified, the era preceding nearly 20 years of civil war. After 1954 the country was split into two very different regimes, the communist Socialist Republic of Vietnam or North Vietnam, and the Republic of Vietnam or South Vietnam. At this time some tien chien composers went South, and others remained in the North. Most of the Northerners either ceased composing or followed the dictates of the regime for writing songs to mobilize the masses and strengthen the revolution. Southerners continued to write romantic songs. Since the North's victory resulting in Vietnam's reunification in 1975, the country's culture has continued to be divided between resident and overseas communities. As nearly all music and literature of a romantic or sentimental basis was banned by the communist regime, many of Vietnam's creative minds left the country in 1975 for Western countries like the United States, Australia, and France. Although differences between these two communities continue until this time, nhac tien chien is one of the few popular song genres that can be heard on the stage of both Vietnam and among the overseas community.

In closing I would like to present the song "Giot Mua Thu" or Autumn Rain Drops by Dang The Phong. Dang The Phong was born in the city of Nam Dinh in 1918, an interpreter's son. In 1940 he went to study at the Art Academy in Hanoi, where he drew cartoons for newspapers to earn money for tuition. In 1941 he traveled to Saigon and Phnom Penh, where he taught some music classes. He first performed at the Olympic Theatre in 1940. He died in 1942 of tuberculosis at the age of 24. (see note 26)


Giot Mua Thu by Dang The Phong and Bui Cong Ky (1939)


Ngoai hien giot mua thu thanh thot roi
Troi lang u buon may hat hiu ngung troi.
Nghe gio thoang mo ho trong mua thu, ai khoc ai than ho
Vai con chim non chiem chiep keu tren canh nhu nhu troi xanh:
"Gio ngung di Mua buon chi cho coi long lam ly."

Hon thu toi noi day reo buon lay.
Long vang muon be khong liep che gio ve

Ai nuc no thuong doi chau buong mau, duong the bao la sau

Nguoi mong may tan cho gio hiu hiu lanh. May ngo troi xanh

Chac gi vui. Mua con roi bao kiep sau ta nguoi.

Gio xa xoi van ve, mua chang mu le the

Den bao nam nua troi? Vo chong Ngau khoc vi thu?


English Translation


Outside on the veranda, the autumn rain is gently falling.
The somber sky is quieting, suspended clouds are scattering.
Amidst the muffled wind blowing past in the autumn rain, who's crying? who's grieving?
A couple of young birds chirfrom the branch as if auguring blue skies:
"Stop wind, why bring sad rain to a plaintive heart?"

Autumn's spirit arrives, announcing the sadness itbrings along
Feelings empty on all sides, for there's no screen to block the returning wind
Who's sobbing, lamenting life, teardrops rush down?
The world's immeasurably sad.
We hope the clouds will scatter bringing sweet gentle breezes. The clouds open up to blue sky
Could such happiness be?
The rain continues to fall, how many more incarnations until this melancholy subsides?

The distant wind still returns, the unyielding rain spreads its gloom
Oh sky, for how many more years will tears pour from the sky because of autumn?


Translation by the author


Notes


1. Marr, David G. Vietnamese Tradition on Trial, 1920-1945. (Berkeley: University of California Press, 1981), 142-189 describes the development of literacy in Vietnam.

2. Pham Duy. Hoi ky: thoi tho au thoi vao doi. (Midway City, CA: Pham Duy Cuong Productions, 1989), 14. For more information about Pham Duy's father see Schafer, John C. "Pham Duy Ton: Journalist, Short Story Writer, Collector of Humorous Stories," Viet Nam Forum 14 (1993), 103-124

3. Jamieson, Neil L. Understanding Vietnam. (Berkeley: University of California Press, l993), 100-101.

4. Nettl, Bruno. The Western Impact on World Music: change, adaptation and survival. (New York: Schirmer, 1985), 11. To Vu, Chi Vu, Thuy Loan. "Am nhac phuong Tay da nhap vao Viet Nam nhu the nao?" Nghien cuu Van hoa Nghe thuat 4/4 (1977), 79-80.

5. Truong Binh Tong. Nghe thuat Cai luong: nhung trang su. (Hanoi: Vien San Khau, 1997), 47; 64; 66. Nguyen Van Tuyen. "Nhung ngay dau tan nhac," Am Nhac 15/3,4,5 (1994), 5.

6. To Vu, Chi Vu, Thuy Loan, op. cit., 82; 88. Truong Dinh Cu. "Ban ve su phat trien cua nen Tan Nhac Viet-Nam," Bach Khoa 73 (15-1-1960), 92. Pham Duy, op. cit., 97-100 recounts the various French songs and singers popular at the close of the 1930s.

7. Jason Gibbs. "Our Songs, the West's Songs: The Introduction and Adaptation of Western Popular Song in Vietnam" read at the Annual Meetings of the International Association for Research in Popular Music, in Pittsburgh, PA, October 30, 1997.

8. Biographical information is taken from Nguyen Van Tuyen. op. cit., 5-8.

9. Le Thuong. "Thoi tien chien trong tan nhac (1938-1946)" in Tuyen tap Nhac Tien chien. (Saigon: Ke si Xuat ban, 1971), 63.

10. "Bach-Khoa phong van gioi nhac si: Vo Duc Thu," Bach khoa 151 (15/4/1963), 101-106. Conversation with Le Yen, Hanoi, June 1995. Conversation with Hoang Trong, Mountain View, California, June 21, 1996. To Vu, Chi Vu, Thuy Loan. op. cit., 86.

11. ibid., 63-64. Pham Duy. op. cit., 153-154; 240. Also see Tham Oanh, "Suc tien trien cua nen Viet nhac," Van Hoa Nguyet San 13 (Thang 5-6, 1953), 255-256. For the story of Myosotis, see Doan Man. "Gop phan tim hieu su hinh thanh nen am nhac cai cach Viet nam," (Hanoi: Vien Am Nhac, 1984).

12. Pham Duy. op. cit., 226-372.

13. Dao Trong Tu, "Renaissance of Vietnamese Music," in Essays on Vietnamese Music, Dao Trong Tu, Huy Tran and Tu Ngoc, ed. (Hanoi: Foreign Languages Publishing House, 1984), 103. Thuy Loan. Luoc su Am nhac Viet nam. (Hanoi: Nha Xuat Ban Am Nhac, 1993), 101-104.

14. For French Vichy activities see Marr, op. cit., 80-81.

15. Nhac si Sang tac Viet nam. (Hanoi: Nha Xuat Ban Van Hoa, 1986), 125.

16. See Viet Nhac 33-34-35 (February 8 to March 16, 1950) for this roster of songs broadcast on Hanoi Radio. "Bach Khoa phong van gioi nhac si: Tham Oanh," Bach Khoa 156 (1 thang 7 1963), 92-100.

17. Composer and music publisher Le Mong Bao describes hiding from his father, an amateur traditional musician, the fact that he played the mandolin and sang new songs with his friends. (Conversation, February 3, 1996). Musician Vu Chan describes his father forbidding him to play Western music in order to not disgrace the family name (Conversation, May 29, 1996).

18. Mai Van Luong in Indochine no. 78 (February 25, 1942), 7.

19. Some of Nguyen Xuan Khoat's efforts at studying and preserving folk music are enumerated in Phan Thanh Nam "Tron doi vi su nghiep Am nhac dan toc," Am Nhac no. 4 (1993), 3-5. The composer discusses his compositional method in Nguyen Xuan Khoat "On lai quang duong sang tac Am nhac cua toi" Nghien cuu Van hoa Nghe thuat no. 2 (1979), 20-34; 73. See Pham Duy. Musics of Vietnam. (Carbondale: South Illinois University, 1975). In the volume Duong ve Dan ca. (Los Alamitos, CA: Xuan Thu, 1990), he traces the folk influence in his songs.

20. According to Pham Duy, it was poet Nguyen Van Con, the lyricist for Nguyen Van Tuyen's first songs, who came up with the name nhac cai cach. Hoi ky: Thoi Tho au Thoi Vao doi., 151.

21. Le Tuan Hung. The Dynamics of Change in Hue and Tai Tu Music of Vietnam Between c.1890 and c.1920. (Clayton, Victoria, Australia: The Centre of Southeast Asian Studies, Monash University, 1991), 3. Tham Oanh. "Lich trinh tien hoa cua Am nhac cai cach," Nhac Viet 4 (1-10-1948), 2.

22. His speech for the Ministry of Education (Bo Quoc gia Giao duc) at Hanoi University on December 4, 1952 was published as "Suc tien trien cua nen Viet nhac," op. cit. See pp. 244-245

23. Le Thuong. op. cit., 62-70. Le Mong Bao. "Cac dong ca khuc Viet nam truoc va sau 1945 qua cac giai doan," Nghe thuat (Montreal) 13 (thang 3, 1995), 38-39; 14 (thang 4, 1995), 28-29.

24. Interview with Nguyen Ngoc Oanh, June 12, 1995.

25. See a special issue of Am Nhac no. 3, 4, 5 (1994), 83-90 for the program of this festival.

26. Biography by Le Hoang Long, printed on the verso of the sheet music: "Giot Mua Thu" (Saigon: Dien Hong, 1964).

Ngày 14 tháng 05 năm 2016

Đôi giầy dũng sĩ - Nguyễn Văn Hồng (1977)

Này em, ta không quên đâu những ngày tù đầy.
Dear, we'll never forget the days of imprisonment.
Này em, ta không quên đâu những ngày tăm tối.
Dear, we'll never forget the darks days.
Này em, ta không quên đâu mối thù từng ngày.
Dear, we'll never forget our hatred each day.
Này em, ta không quên đâu mối thù muôn đời.
Dear, we'll never forget our eternal hatred.
Và dù không là gì cả, cũng xin làm đôi giầy dũng sĩ,  trở về đạp nát tan kẻ thù.
And though it's not much, we ask to make a pair of shoes for brave spirits, to go back and smash the enemy.

Này em, cha ông em chết trong ngục tù.
Dear, your fathers, grandfathers, brothers die in jail
Này em, thân nhân em đau buồn tang chế.
Dear, your loved ones grieve painfully in mourning
Này em, tương lai em vẫn còn mịt mù.
Dear, your future is still hazy.
Này em, quê hương ta vẫn còn nô lệ.
Dear, our homeland is still enslaved.
Và dù không là gì cả, cũng xin làm đôi giầy dũng sĩ, trở về đạp nát tan xích xiềng.
And though it's not much, I ask to make a pair of shoes for brave spirits, to go back and smash the shackles.

Cho tôi xin một lần gục ngã, cho em tôi suốt đời ngẩng mặt.
Grant me this once to fall, so you all your life you can raise your head
Cho tôi xin một lần được chết, cho quê hương ngàn đời vinh quang.
Grant me this once to die, so the homeland can forever be glorious
Cho tôi xin một đời nhọc nhằn, cho em tôi một đời hạnh phúc.
Grant me this weary life, so you can have a happy life.
Cho tôi xin một đời chiến chinh, cho quê hương muôn đời thanh bình.
Grant me a life of fighting, so the homeland forever has a peaceful life.
Nhạc vàng có nhiều ca khúc hay, nhưng cũng chỉ hát để nghe chơi cho khuây khỏa, nó ấm ướt lê thê làm cho não lòng, đã buồn lại buồn hơn, đã chán lại chán hơn, nó chẳng mang một ý nghĩ nào thiết thực cho đời sống trong tù, cần một khích động, một cổ võ để giữ vừng ý chí đấu tranh, cuộc đấu tranh tuy âm thầm nhưng cần phải có như các ca khúc của Vũ Hồng, thuộc Đội 20 sáng tác, mang nội dung trầm hùng, tạo nên xúc cảm mạnh, mỗi lần cất giọng.
Này em, anh không quên đâu những ngày tù tộiNày em, anh không quên đâu những ngày tăm tốiAnh chết hôm nay, cho ngày mai em ngửng mặtAnh chết hôm nay, ngày mai Tổ quốc vinh quang.
Mỗi lần hát lên, tự nhiên máu trong người như xông xang, có cảm tưởng như mình sống lại cái thuở nào bào hùng, bất khuất. (nguồn: Tạ Tỵ, Đáy địa ngục (San Jose, CA: Thằng Mõ, 1985), tr. 637).
Không có nhiều thông tin về Nguyễn Văn Hồng / Vũ Hồng.  Hình như ông không tham gia đời sống nhạc chuyên nghiệp trước năm 1975.  Là trung úy pháo bình trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa, vậy ông từng bị cải tạo.  Ông cũng thuộc vào Đội 20 là một nhóm huyền thoại gồm những thanh niên Phục Quốc chống lại chế độ.  Năm 1976 ông bị đưa ra miền Bắc trong tầu Sông Hương.  Trong hồi ký tù Đáy địa cầu, họa sĩ Tạ Tỵ viết rất chi tiết về chuyến đi thảm hại này.  Đây là lời miêu tả ngắn gọn trong chuyện ngắn của tác giả Nguyễn Ái Lữ:
Qua đầu năm 1976, khoảng 2000 tù nhân trại Suối Máu được chở ra Bắc bằng tầu Sông Hương. Phải gọi đây là Chuyến tầu kinh hoàng vì chứa quá nhiều người, mất vệ sinh, cướp cả mạng sống của tù nhân. … Chuyến tầu này cũng là một địa ngục trần gian, gây khinh hãi cho tù nhân trong suốt hành trình bay ngày ba đêm trên biển (nguồn: Nguyễn Ái Lữ, "Đất nổi giận 21," Vietnam Daily [online] June 11, 2011)
Sau đó Nguyễn Văn Hồng vào trại Nam Hà (ở tỉnh Hà Nam Ninh).  Ở đây Đội 20 chống lại cán bộ trại:
Vào buổi sáng ngày 16/9/1977, toàn thể tù "cải tạo" phân trại “A” Nam Hà đồng thanh hô vang nhiều lần “đả đảo cộng sản” trước giờ lao động tại sân trại, để chống lại hành động đối xử tàn nhẫn của "cán bộ" trại đối với anh em tù cải tạo bị bệnh nặng. (nguồn: Trần Nhật Kim, "Một thời để nhớ," Tiếng Quê Hương [blog] 3 tháng 11 2015)
Trong hoàn cảnh trại cải tạo thì các thành viên của Đội 20 được coi như là những vị anh hùng.  Chống lại chính quyền của trại thì tất nhiên họ bị hành hạ nặng nề.  Theo một hồi ký thì 6 người trong nhóm ấy bị chết ở trại - trong những người cũng có Nguyễn Văn Hồng (xem Mai Văn Tấn, "Những biến động Ở Trại Nam Hà (1980,1981)" Một Góc Trời [website]).  Nhưng đối với những người bị cải tạo:
Tên đội 20 như đã đi vào lịch sử và mang theo nhiều kỷ niệm đau thương lẫn tự hào với hình ảnh các người tù chính trị đã hiên ngang và công khai, tay không đứng lên chống lại cái chế độ bạo quyền của hệ thống trại giam Cộng Sản (Phạm Gia Đại, Hồi ký: Những người tù cuối cùng ([CA]: Phạm Gia Đại, 2011), tr. 442). 
Nhiều người bị cải tạo cố tìm cách để tôn tại và giữ nhân phẩm của mình.  Đối phó với mỗi gian khổ là đủ.  Nhưng mình tồn tại có phải đủ để "thắng."  Thắng ai, thắng cho ai?  Thắng chính mình, thắng cho chính mình?  Hay thắng kẻ thù, thắng cho quê hương, đất nước?

Phản kháng ở Việt Nam sau năm 1975 không được đến kết quả mấy.  Kẻ phản kháng bị giam, bị xử tử hay chết dần ở tù / trại.  Tính mạng của mình khi bị giam, bị bỏ mạng có nghĩa gì?  "Cho tôi xin một lần được chết, cho quê hương ngàn đời vinh quang."  Sự vinh quang này nằm trong tay thế hệ sau.  Cho người "trở về đạp nát tan xích xiềng."  Có thông tin cho rằng "em" của bài ca này là bạn gái của tác giả (xem Việt Chính Nhân, "Mở lại hồ sơ 'Vụ Nguyễn Chí Thiện'," Chính Nghĩa (website, không ngày tháng).  Khi mới dịch bài ca "Đôi giày dũng sĩ" tôi cứ tưởng nhầm là em ở đây là như người em trai, em kết nghĩa, là đồng đội.  Như vậy bản phản kháng ca này cũng biểu lộ tình cảm của hai người tình nhân.  Anh chiến sĩ chết thì em phải tự hào - "Cho tôi xin một lần gục ngã, cho em tôi suốt đời ngẩng mặt."

nguồn: Trần Nhật Kim, "Một thời để nhớ."

Tôi chưa được tìm âm thanh cho bài ca "Đôi giầy dũng sĩ" trên mạng.  Giai điệu này gồm nhiều hợp âm trưởng với tiết tấu nhạc kèn fanfare.  Bài ca được hát truyền miệng và được biết rộng rãi trong nhiều trại tập trung cải tạo.  Tạ Tỵ khên bài "Đôi giầy dũng sĩ" là "mang nội dung trầm hùng, tạo nên xúc cảm mạnh, mỗi lần cất giọng."  Không có âm thanh trên mạng là một điều hơi lạ.

Ngày 12 tháng 05 năm 2016

Hẹn thề (A Vow) - Việt Long (1982-3)

Đứng đây trông núi đá mòn
Standing here looking at worn mountain stone
Trông em héo hắt nhìn con đến thì
Looking at you beaten down, looking at our child arrive
Bên ngòai đời vẫn trôi đi
Outside life still flows onward
Riêng ta đứng mãi giữa miền trầm luân
It's just I who always is standing in the middle of a realm of grief
Nợ duyên bao kiếp hồng trần
Fate's debt from many wordly incarnations
Cho em mòn mỏi cho thân lưu đầy
For you all tired out, for a body in exile
Tang điền kia bỗng đổi thay
The mulberry plantation over there suddenly changes
Nhân thân tựa lá gió bay mịt mù
A human life is like leaves flying in a dark, faraway wind
Từ anh sương tuyết phiêu du
From me, fog and snow drift
Nhớ thương khô dạ hận thù cháy tim
Longing dries your gut, hatred burns your heart

Thôi em giữ lấy tơ duyên
Alright, hold on to the marriage bonds, my love
Gươm đàn mai sẽ ra miền ải quan
Sword and instrument, tomorrow will come to the mountain pass
Hãy trông kìa em, ngập tràn xương máu
Look out of there, dear, flooded with bones and blood
Hãy trông kìa con, gian dối bạo tàn
Look over there child, deception and cruelty
Mai đây rửa sạch hờn oan
Tomorrow wash away long-standing grudges
Trăm năm tơ tóc chứa chan ân tình.
In one hundred years, a strand of hair can overflow with goodwill


Thế giới ở ngoại vào trại là nhờ thân nhân đến thăm nuôi.  Thân nhân, tức là vợ mình, cũng vất vả với đời sống ở ngoại - cũng bị "mòn mỏi cho thân lưu đầy."  Tác giả tự tiếc đời mình là "đứng mãi giữa miền trầm luân."  Tác giả viết:
Bài “Hẹn thề” được sáng tác tại trại tù Z30A – Xuân Lộc khoảng năm 1982-83, lúc phong trào sáng tác và trình diễn nhạc tù ca lên cao nhất tại nơi đó. Tôi viết bài này như một lời thề hứa đoàn viên với vợ hiền, con ngoan để rồi lại lên đường chiến đấu giành lại quê hương, rồi sẽ đoàn tụ vĩnh viễn trong một đất nước tự do, theo mộng tưởng của mình vào lúc đó. (nguồn: "Việt Long: Hẹn thề," T.Vấn và bạn hữu 7 tháng 7 2012)
"Hẹn thề" là giữ hận thù đợi thế hệ của con "rửa sạch hờn oan."  Rửa thì cũng phải làm "ngập tràn xương máu."  Như vậy mới có ân tình? 
tác giả trình bày