23 tháng 4, 2017

định nghĩa chữ "kiểm duyệt"

KIỂM DUYỆT sự giám sát của cơ quan nhà nước đối với các bản thảo, tài liệu, tin bài đưa in thành sách hoặc công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng.

CENSORSHIP the supervision by a government agency towards manuscripts, documents, news and essay printed in books or in the mass media.

(Từ điển Bách khoa Việt Nam quyển 2. Hà Nội: Nhà xuất bản Từ điển học, 2002).


Theo Oxford English Dictionary (Từ điển Tiếng Anh Oxford) thì censor (danh từ) là:

An official in some countries whose duty it is to inspect all books, journals, dramatic pieces, etc., before publication, to secure that they shall contain nothing immoral, heretical, or offensive to the government.

Một công chức trong một số quốc gia có nhiệm vụ kiểm tra tất cả các sách, báo chí, kịch bản, v.v. trước khi xuất bản bảo đảm rằng tất cả sẽ không bao gồm nội vô đạo đức, dị giáo, hay xúc phạm nhà nước.

Censor (động từ) cũng có ý nghĩa:

[censor with] reference to the control of news and the departmental supervision of naval and military private correspondence (as in time of war)

[kiểm duyệt theo] phạm vi để có quyền hành về thông tin và sự quản lý thuộc cục của thư từ hải quân và quân sự (thời chiến).

Luật xuất bản, Điều 17 (trích)

Đối với những tác phẩm trước Cách mạng tháng Tám, trong vùng tạm bị chiếm cũ và sách dịch của nước ngoài cần phải thẩm định nội dung thì nhà xuất bản và cơ quan chủ quản của nhà xuất bản phải có nhận xét, đề nghị cơ quan quản lý nhà nước về xuất bản có thẩm quyền tổ chức thẩm định và quyết định việc xuất bản, tái bản.

As for works before the August Revolution, in areas formerly occupied, and with translated books from overseas, there should be an evaluation of the subject matter, so publishers and agencies controlling publishers must have the judgement and suggestions of governmental managing agencies for publishing that have jurisdiction to organize judgement and decide the publication or republication.


Những lời định nghĩa việc kiểm duyệt không nói đến những lý do tại sao một nhà nước có ý cấm hay cho tác phẩm nào được in ấn hay phổ biến.  Tất cả các cách giải thích việc kiểm duyệt đều nói đến một quốc gia hay một cơ quan của quốc gia, nhưng thực ra một tổ chức tôn giáo, một công ty kể cả một cá nhân có khả năng kiểm duyệt những tác phẩm hay ý kiến.

20 tháng 4, 2017

Cánh Thiệp Đầu Xuân (A Spring Greeting Card) - Minh Kỳ và Lê Dinh (1962)

Hoa lá nở thắm đẹp làn môi hồng, 
Flowers bloom in full beauty with red lips
Xuân đến rồi đây nào ai biết không? 
Spring has come, surely someone knows?
Mang những hoài mong đi vào ngày tháng
Bringing enduring hopes into the months ahead
Bao nhiêu mơ ước đến khi mùa Xuân sang.
So many wishes arrive when Spring comes.

Tôi chúc gì đây vào mùa Xuân này.
What greetings will I make this spring?
Khi nắng vàng tươi nhuộm làn tóc ai,
As fresh golden sunlight dyes someone's tresses
Khi gió nhẹ lay hoa đào hồng thắm, trong khi Xuân ấm mới tô đẹp tháng năm.
When a light breeze stirs the pink peach blossoms, while warm Spring beautifully colors the year ahead

Tôi chúc muôn người mọi điều ước muốn, non nước vinh quang trong tia nắng thanh bình để người anh lính chiến [yêu dấu] quay về gia đình tìm vui bên lửa ấm.
I bring a wish for thousands to have all they desire, glorious mountains and waters in the sunny rays of peace so the soldier at war [your beloved] can come back to his family find enjoyment by warm fires.

Tôi chúc yên lành người người khắp chốn mong gió đưa duyên cho cô gái Xuân thì ước nguyện sao chóng thành rượu hồng se duyên.
I send a restorative wish to everybody everywhere, hope for a wind bearing predestined love to girls in the Spring of life, a desire that somehow quickly becomes rosy wine of shared life

Tôi chúc ngày mai dù đường xa vời, trai gái bền duyên đẹp tình lứa đôi, cho bướm vàng bay trên nẻo đường mới, vai bên vai những lúc tâm tình lên khơi
I send greetings for a tomorrow, though the road goes far away, young men and women steadfast in their destined loves, so the golden butterfly will fly across new pathways, shoulder to shoulder when tenderness is aroused

Tôi chúc rồi đây người về phương nào cho dẫu thời gian lạnh lùng lướt mau, mong ước ngày sau như là ngày trước, tay trong tay nhớ lúc trao thiệp đầu xuân.
I give greetings to people wherever they go so that even if time indifferently glides past, a wish that tomorrow will be like before, arm in arm remembering the exchange of greetings at spring.

nguồn: "Cánh thiệp đầu xuân," Minh Kỳ và Lê Dinh ̣(Sài Gòn: Tinh Hoa Miền Nam, 1962).

Lệ Thanh ca bài "Cánh thiệp đầu xuân" dĩa Việt Nam

Năm mới có hy vọng mới.  Người ta có "ước muốn" nào?  "Non nước vinh quang" và "binh mình" có nghĩa là đất nước được thống nhất và hòa bình.  Khi được như thế thi người anh lính chiến, hay người yếu dấu được về với gia đình.  Hai chữ "lính chiến" như bị cấm kỵ trong nước Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam như vậy phải thay thế bằng hay chữ "yêu dấu."

Bài ca này không có hận thù mà chỉ "mong ước ngày sau như ngày trước."  Người chung một nước được "tay trong tay" đón xuân mới.

Các với nhiều bài ca boléro, "Cánh thiệp đầu xuân" viết theo điệu trưởng.  Như vậy bài ca này, dù có chút ít chất nhớ nhung, cũng nghe vui vui.

19 tháng 4, 2017

Rừng xưa (The Jungle of Old) - Lam Phương (1963)

Người về đâu hỡi người về đâu?
Where have you gone, oh, where have you gone?
Có nhớ chăng một chiều bên suối mơ?
Do you remember an evening by the stream of dreams?
Nghe gió cuốn mây trôi về nơi xa tít chân trời: tình đã trao không lời.
Hear the swirling winds, clouds drifting far away to the sky's end: love was exchanged without a word.

Rồi mùa thu thương tiếc quá.
Then autumn with so many regrets.
Anh nỡ đi trong lòng hoa xác xơ.
How could you go into heart of a ragged flower.
Ôi thắm thoát trôi qua mười năm quá xa rồi mà tình mãi còn vương
Oh quickly they fly by, ten years, very far gone but love still lingers

Bao năm qua người ơi mang tin yêu cho đời.
How many years pass, oh you bring love to life.
Mong có ngày đoàn viên giữa núi reo triền miên,
I expect there will be a day of reunion in tangled raucous mountains
Về với em nghe nắng mai chan hòa, nghe lúa vàng dâng tràn đầy hương yêu.
Come back to me feeling tomorrow's overflowing sunlight, hear golden rice stalks rise full of beloved fragrance

Người về đâu hỡi người về đâu?
Where are you going, oh, where are you going?
Đây ước mơ của miền Nam mến yêu.
Here's the wish of the beloved South.
Tha thiết đến tin anh về bên mái gia đình tìm hạnh phúc ngày qua.
Urgently coming news of you at your family home searching for the happiness of past days.


nguồn: Lam Phương, "Rừng xưa," (Sài Gòn: Tác giả, 1963).

Hoàng Oanh ca "Rừng xưa," ban nhạc Văn Phụng, Hãng Dĩa Việt Nam M.3354

Lúc bài ca này được cấp phép lưu hành ở nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ngày 6 tháng 12 2011 tôi nghĩ là ít người lưu ý. Trên danh mục của Cục Nghệ Thuật Biểu Diễn ngày hôm nay thì bài ca này vẫn được phép lưu hành.

Nhưng cách đây vài hôm thì Cục Nghệ Thuật Biểu Diễn rút phép biểu diễn bài "Rừng xưa" với Công văn số 1575/BVHTTDL ngày 14 tháng 4 2017 (thực ra bài này chỉ bị "tạm dừng phổ biến).

"Gió cuốn, mây trôi" làm ẩn dụ cho thời loạn - hai người phải chia xa.  Cô gái hát trong bài ca nhắn người trai này hãy về "miền Nam mến yêu." Như vậy cũng phải đoán rằng chàng trai ấy ở miền Bắc.  Mười năm trước là năm 1953 - nhiều người miền Nam tập kết ra Bắc năm 1954-5.  Vậy bài ca này là như một ca khúc chiêu hồi không trực tiếp.

16 tháng 4, 2017

Bà Sylvia Durand


Bà Sylvia Durand
Giải nhất Hoàng-gia Nhạc-viện ở Bruxelles
Lại bắt đầu mở lớp dạy từ
Ngày 22-10-1051
Ở 25 Đại-lộ Hùng Vương (B. de l'Isle)

nguồn: Tia Sáng (21 Tháng Mười 1951), trang 3.

Có vẽ như không cần nói là bà Durand dạy vĩ cầm.  Bà là vợ của nhà ngôn ngữ học Maurice Durand.  Từ những năm 1930 bà từng dạy những người Vũ Khánh, Nguyễn Trần Dư và Nguyễn Văn Long.

6 tháng 4, 2017

Lệ thu (Autumn Tears) - Nguyễn Đình Phúc (1943)

(Mélodie)

Andantino espressivo

Ôi! Giấc mơ hoa đã tàn.
Oh! The flower's dreams fade
Xa rồi nhỉ?
Aren't they distant?
Tìm đâu thấy!
Where to look!
Ôi! Phút say sưa mơ màng.
Oh! Rapturous minutes of reverie
Xa rồi nhỉ?
Aren't they distant?
Tìm đâu đây?
Where have they gone?

Buồn ơi xa vắng mênh mông buồn!
Oh sadness, faraway, vast sadness!
Nhớ nhung làm chi nữa
Why keep longing
Để mặc lệ sầu tuôn.
Don't bother with sad flowing tears.

Giờ thu đến trong muôn ngàn cây
When autumn arrived in thousands of trees
Với bao tình năm ấy vấn vương tơ lòng.
With so much feeling during those days of loving affection

Nay, bóng thu xưa đã mơ.
Now, autumn shadows of long ago have faded
Đâu rồi nhỉ?
Where are they?
Ngày thu ấy!
Those days of autumn!

Nay, lá thu rơi hững hờ quanh mình chỉ gợi buồn lây.
Now, autumn's leaves indifferently fall around me, only arousing sadness

Ngày vui xưa tới nay xa rồi.
Those happy days of long ago, up to now are far away.
Vấn vương làm chi nữa càng thêm bận chia phôi.
Why remain attached any more, there's more worry of separation

Đừng nên quá tiếc thương làm chi
Don't regret too much, what's the use?
Nhớ nhung càng thêm phí: kiếp hoa chóng tàn.
Longing is more of a waste: the flower's lot quickly fades.


nguồn: Nguyễn Đình Phúc, "Lời du tử (Mélodie)" (Hanoi: Imp. Xuân Thu, 1943).



5 tháng 4, 2017

Sáng trăng (Moon bright) - Đặng Thế Phong (1939)


Gai et rythmé - Vui vẻ và nhịp nhàng

Đêm sáng trăng mơ màng
At night moon bright and dreamy
Mầu biếc lan trên hoa vàng
A greenish hue spreads across golden blossoms
Cùng nhau ta cùng ca.
Together we sing.
Đời tươi thắm nhường hoa ngày niên thiếu vui.
A cheerful life yields to the flower, happy days of youth.
Ta gắng quên âu sầu.
We try to forget the sad.
Ta cứ chơi nô cười.
We play and laugh merrily.
Kìa ánh trăng trong trên đầu
There the clear moon over our heads
Khi thấy ta ưu phiền
If we feel worry
Thì dưới ánh trăng dịu dàng
Then beneath gentle moonlight
Ngồi ca trông Hằng Nga
Sit, sing and watch Chang'e
Còn vui hơn Bồng Tiên
It's more fun than the Fairy Isle

nguồn: Học Sinh 24 tháng 8 1939, tr. 8.

Xem bản nhạc trong bài "Đặng Thế Phong - sống và chết trước khi thời cơ đến" trên trang BBC Tiếng Việt.

26 tháng 3, 2017

Chiến đấu trong thành phố (Fighting in the City) - Huỳnh Phương Đông (1973)

toàn tranh
một chi tiết
một chi tiết khác

nguồn: Giải Phóng (bộ 2) #1 1973

"Chiến đâu trong thành phố" là một tranh thuốc nước rất thành công.  Bên Mặt Trận Giải Phóng thì các tấm ảnh chỉ được chụp kiểu đen trắng.  Còn nữa lắm lần các tác phẩm thường có thông điệp tuyên truyền.  Tranh này tỏ ra mốt số ý kiến phức tạp hơn.

Một ý là các chiến sĩ của mình gây sự phá hoại (là kết quả đương nhiên của chiến tranh, nhưng nhiều khi nghệ thuật tuyên truyền không cho phản ánh điều đó).  Ý thứ hai là thành phố miền Nam được đầy màu sắc và được thịnh vượng (khi tuyên truyền thì phải cho rằng đồng hương bên kia sống trong cảnh nghèo khổ).

19 tháng 3, 2017

Trước chân dung Akhmatova (Before Akhamatova's Portrait) - Ý Nhi (2008?)

vợ chồng Nikolai Gumilev và Anna Akhmatova của Olga Lyudvigovna Della-Vos-Kardovskaya vẽ

Người từng tìm đến bóng râm của vòm cây trong một bức tranh
She sought an arbour's shade in a painting
người một mình đi qua mưa nắng, bão giông, băng giá
all alone she experienced rain and shine, storms, frost
Người ước ao có thể khóc dịu dàng như trẻ nhỏ
She desired to cry sweetly like a babe
người một mình gánh chịu bao dày vò, thóa mạ.
she alone bore so many torments and insults.

Người từng khụy ngã trước tình yêu 
Once she was someone who stumbled before love
người một mình đối mặt cùng bạo lực.
all alone she came face to face with violence.

Người từng chờ đợi mỗi chiều nơi bậc thềm một bóng thân yêu
Once she was someone who waited afternoon at the veranda for his beloved outline
người một mình thét vang trong tù ngục.
all alone she screamed in prison.

Ôi người đàn bà mảnh mai trong tấm áo đen
Oh a woman, once frail in her black cloak
người từng qua cõi này.
she went past that realm.

Người từng bị đày ải người từng được dâng tặng người từng bị nhục mạ
Once someone who was tormented, once someone who made offerings, once someone who was reviled
người từng được tôn vinh
once someone honored
người không tàn lụi trong oán hờn
She did not stagnate in resentfulness
không tan trong nước mắt
did not fade in tears
ôi người đàn bà mảnh mai trong tấm áo đen
oh slender woman in a black blouse
người từng qua cõi này chăng.
she once passed through this realm.

nguồn: newvietart.com

12 tháng 3, 2017

... "Văn hóa nô dịch là một công cụ có thật của đế quốc Mỹ" - Hoàng Phủ Ngọc Tường (1975)

“Văn hóa nô dịch” không phải là một từ ngữ có tính cách tuyên truyền bài Mỹ của nhân dân ở các vùng bị địch tạm chiếm ở miền Nam trước ngày giải phóng.  Văn hóa nô dịch là một công cụ có thật của đế quốc Mỹ nhằm thực hiện ý đồ xâm lược của chúng trên lãng thổ tinh thần của người Việt ở miền Nam; dù rằng công cụ ấy khó thấy hơn những công cụ xâm lược khác của chúng như lính Mỹ, xe tăng Mỹ, đồng đô la Mỹ chẳng hạn.  Chính sách văn hóa nô dịch của đế quốc Mỹ được phổ biến bằng một hệ thống phương tiện tràn ngập khắp nơi trong cuộc sống hàng ngày ở vùng chúng chiếm đóng: phim [4] ảnh, báo chí, sách vở, văn học, âm nhạc… phản động, đồi trụy, cho đến một số cách ăn mặc, giải trí, cả những tập tục sinh hoạt không lành mạnh v.v…  Thậm chí có cả những đồ dùng rất gần gủi, biền lành đến độ mới nhìn nó, nhiều người không thể nhận ra đó là một phương tiện chiến tranh của chúng, thí dụ như một chiếc gương soi cho các cô gái ở nông thôn, hoặc một cuốn giáo khoa cho các em học sinh tiểu học chẳng hạn.


Dưới dáng dấp của những vật dùng bình thường, tất cả hệ thống những “phương tiện văn hóa” nhằm đạt đến một hiệu quả tinh thần rất nguy hiểm: phổ biến tư tưởng phản động và gieo rắc nọc độc đồi trụy của bọn đế quốc và giai cấp tư sản, làm bật gốc dần những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, hòng khuất phục ý chí đấu tranh của nhân dân, tạo nên một nếp nghĩ, nếp sống không lành mạnh về văn hóa, để về lâu về dài “Mỹ hóa” từng bộ phận trong lĩnh vực tinh thần của người Việt ở vùng bị chúng chiếm đóng...

Hoàng Phủ Ngọc Tường

trích "Hưởng ứng chủ trương quét sạch sách báo, tranh ảnh phản động đồi trụy; loại trừ sách báo, tranh ảnh lạc hậu," Thừa Thiện Huế #29 15 tháng 12 1975, tr. 1; 4.


Những lời ở trên nghe như ý Taliban hay ISIS.  Nước Mỹ là như người không đạo, là quỷ xa tăng.  Nhà nước Mỹ đã làm chính sách xấu, hành động hung ác.  Coi mỗi mặt của nước Mỹ và xã hội Mỹ như thế thì không đúng.  Nhưng ông Hoàng Phủ Ngọc Tường lo đến các "phương tiện văn hóa" như các chiếc gương soi và cuốn giáo khoa.  

Khúc yêu đương (Love Song) - Thẩm Oánh (1937)


Lời ca và âm nhạc của Thẩm Oánh
trong "Myosotis - Orchestra"

Một bản đàn sẽ do ban Myosotis Orchestra họa để giúp vui cho buổi chiếu bóng của Đoàn Ánh Sáng tại rạp Olympia ngày thứ ba 13 September 1938

Ngọn trào, gió cuốn mang đến nơi đâu chiếc thuyền tình, xa chìm nỗi.
At its height, wind sweeps along to some place love's vessel, far away, sinking, rising
"Thuyền ơi! Hãy ghé vào bờ, để tôi đỡ phải mong chờ; mượn lái thuyền mà đi kiếm người mơ."
"Oh vessel! Visit the shore, so I am relieved from waiting; borrow a pilot to find the dreamer."
Một ngày ân ái, một buổi bên nhau, có thế thôi, cũng đủ rồi.
A day of affection, a spell together, that's all, that's enough.
Em! ơi!
My! dear!

Bên em một ngày, xa em một tuần,
Next to you one day, far from you a week
Yêu đi kẻo nữa hết ngày xuân
Let's love or else spring days will be done
Bên em một giờ, tưởng như một đời.
Next to you an hour, it felt like a lifetime.
Yêu đi, kìa chiếc lá vàng rơi!
Let's love, over there golden leaves are falling!

nguồn: Thẩm Oánh, "Khúc yêu đương," Ngày Nay 11 tháng 9 1938, tr. 6

Bài ca "Khúc yêu đương" này rất là xưa.  Nó xuất hiện chung một trang với thơ châm biếm của Tú Mỡ về Hội Trí Ti và thơ Bạch Cự Dị của Tản Đà dịch (khi Tản Đà còn sống).  sau các bài ca của Nguyễn Văn Tuyên, Phạm Đăng Hinh và Lê Thương.

Lời ca "Khúc yêu đương" rất hay.  Thuyền bị nước giật.  Phải có người lái. Thẩm Oánh nhờ các mùa và thiên nhiên để tỏ tình.  Người tình đang trong "ngày xuân."  Hãy yêu đi trước khi tuổi trẻ / ngày xuân hết.

Nếu tính theo quy ước của một bài ca phổ thông thì "Khúc yêu đương" chưa ổn.  Câu nhạc đầu có 9 ô nhịp, cầu thứ hai có 11 ô nhịp.  Thường lệ thì các câu nhạc phải có con số ô nhịp đều như 8 hay 12 ô nhịp.  Hai câu cuối có đúng 8 ô nhịp, nghe như một điệp khúc.  Giai điệu có kiểu valse nghe mơ mộng rất phù hợp với lời ca.

Có lẽ Thẩm Oánh là nhạc sĩ Việt Nam đầu tiên được in bản nhạc.  Nhưng bài ca đầu tiên - "Mon rêve" -  được viết với lời ca tiếng Pháp.

nguồn: Bulletin de la Société d'enseignement mutuel [tức Hội Trí Tri] tome XVII - nos. 3-4 (Hanoi: Société d'Enseignment Mutuel: Comité Central, 1938), tr 128.

10 tháng 3, 2017

Nỗi buồn gác trọ (Sadness in a Garret) - Hoài Linh & Mạnh Phát (1964)


Phương Dung ca, ban nhạc Nghiêm Phú Phi

habanera

Gác lạnh về khuya cơn gió lùa
Cold garret at midnight, a draft of wind
Trăng gầy nghiêng bóng cài song thưa.
A sliver of moon pokes its shadow across the window bars
Nhớ ai mà ánh đèn hiu hắt, lá vàng nhẹ nhẹ đưa tưởng như bước lê hè phố
Recalling someone, the flickering lamplight, golden leaves lightly pass as if they were heels stepping on the sidewalk

Có người con gái buông tóc thề
There's a girl who lets loose her shoulder length hair
Thu về e ấp chuyện vu quy
At autumn's return furtively wishing to be led to a husband's house
Kết lên tà áo màu hoa cưới, gác trọ buồn đơn côi phố nhỏ vắng thêm một người --
Link with a blouse colored with wedding flowers, the small garret, sad and lonely is missing one more person

Bâng khuâng gác vắng khêu tim đèn đêm, nhớ nhung đi vào quên, sông sâu cố nhân ơi đi về đâu
Sorrowfully, the empty garret rouses the night lamp's wick, longing proceeds to forgetting, the river is deep, old lover, where does it go?
Gởỉ hồn chìm vào đôi mắt, aí ân chưa tròn để ngàn đời nhớ nhau
Sends the soul sinking into a pair of eyes, goodwill not yet ended, for a thousand lives we'll miss each other
Phố nhỏ đường mưa trơn lối về --
The small lane, the rain slick road on the path back --

Dâng sầu nhân thế dọng trên mi.
Melancholy floods upwards human life lingers on eyelashes
Có ai ngồi đếm mùa nhung nhớ, nỗi niềm đầy lại vơi mỗi mùa tiễn đưa một người.
Who is sitting counting the seasons of long, emotions empty and full every season seeing somebody off.

nguồn: Hoài Linh & Mạnh Phát (Sài Gòn: [Tác giả], 1964).


7 tháng 3, 2017

Đi Chơi Khuya (1940)

VỢ (ngọt ngào) -- Em vừa mê thấy cậu đi hát về
CHỒNG -- Thế bây giờ, mợ lại ngủ đi, mợ sẽ mê thấy vụt tôi mấy chiếc to mây thật đều.

nguồn: Ngày Nay #207 (11 mai 1940), tr. 16.

5 tháng 3, 2017

Institut musical de Hanoi (fondé en 1913)



Mlle Y. Périé-Poincignon
directrice

Annuaire général de l'Indochine 1918, Partie commerciale (Hanoi: Imprimerie d'Extrême Orient, 1918), tr. 69.

Boulevard Gambetta = Trần Hưng Đạo


Bà Yvonne Périé là con gái nuôi của Albert Poincignon.  Ông là người thành lập Conservatoire Français d'Extrême-Orient ở Hà Nội năm 1927.  Nhưng Institut Musical de Hanoi (Viện Âm nhạc Hà Nội) được lập từ 1913 và có các sinh hoạt từ năm 1913 đến năm 1944-5 gì đó. Nhạc Viện có nghĩa tổng quát (dạy các loại đàn) nhưng ở Institute Musical de Hanoi bà Périé chỉ dạy đàn piano, thanh nhạc, và các môn hòa âm, sáng tác, xướng âm và múa.

Những năm đầu Institut Musical de Hanoi chỉ có học sinh người châu Âu.  Nhưng đến những năm 1930 và Périé từng dạy đàn piano cho rất nhiều học sinh người Việt.  Bà Périé cũng dạy nhạc ở Lycée Albert Sarraut đến năm 1952-1954 gì đó.  (Xem Đinh Trọng Hiếu, "À la gloire de notre lyćee, à la gloire de noi amis," Tuvietfr (25 tháng ̀5 2016)).  Nghĩa là bà sống và dạy âm nhạc ở Hà Nội hơn 40 năm và như vậy cũng góp phần xây một nền âm nhạc mới cho Việt Nam.

16 tháng 2, 2017

Sáng trong rừng (Morning In the Woods) - Đặng Thế Phong (1939)


Riêng tặng các bạn "Hương đạo Sinh và Sói con" -
Những người đã thấy cái "buồn buồn, vui vui" của một buổi sáng cầm trại trong rừng

Dedicated especially to my Boy Scout and Cub Scout friends -
Those who have a little sadness and joy of a morning camping in the forest

Sáng tới rồi, khắp đất trời đã tưng bừng ánh vàng,
Morning has come, everywhere earth and sky are animated in light,
Vừng đông, chân trời vừa ló,
Rising glow to the east, the horizon has just appeared
Núi, suối, rừng đã thấy mầu thắm, lẫy lừng huy hoàng,
Mountain, stream, woods are seen in deep colors, illustrious, resplendent
Và sương thêm mầu mơ màng...
And the fog is more dreamy

Refrain / Điệp khúc

Chim véo von mừng sáng,
Birds tunefully celebrate morning,
Hoa lá như dịu dàng,
Foliage seems gentle,
Bình minh vừa tìm mang tới bao sắc hương.
Dawn newly found brings so much beauty and fragrance
Mây trắng bay từng đám man mác trên nền trời,
White clouds fly, each bank vast upon the heavens,
Đầm đìa làn cỏ sanh láng lai sương rơi,
Moist, green grass, spilling over with dewdrops,
Tâm hồn ai không say đắm cảnh rừng tuyệt vời...
Whose soul wouldn't be elated by this fantastic forest scene...
Và thấy trái tim thêm nồng nàn,
And feel their hearts more impassioned,
Tràn lấn biết bao tình yêu đời,
Overrun by so much love of life,
Xao xuyến cây, làn gió lay lá bay rộng ràng
Agitated trees, a gust of wind rustles blowing leaves
Lòng người cùng sông sang với bao ánh dương!
People's hearts with the river cross with so much sunlight

nguồn: Học Sinh (22 tháng 6 1939), tr. 7.


Đặng Thế Phong từng cắm trại với các đội hướng đạo sinh.  Chắc nhạc sĩ này cũng tổ chức việc các em ca hát.  Đi cắm trại có nghĩa là thanh thiếu niên thành phố, thành thị đi vùng nông thôn, vùng núi rừng và sống trong thiên nhiên.  Đối với người thành phố thì thiên niên quả là đẹp và lạ và huy hoàng.  Bài ca "Sáng trong rừng" cũng tương tư bài ca "Bình minh" của Nguyễn Xuân Khoát, Thế Lữ đặt lời.  Nhưng nhân vật của bài "Sáng trong rừng" (là chính Đặng Thế Phong?) thấy rung động hơn.  Trong ánh sáng bình minh thì "núi, suối, rừng đã thấy mầu thắm, lấy lừng huy hoàng."  Nhạc sĩ Đặng Thế Phong hỏi "Tâm hồn ai không say đắm cảnh rừng tuyệt với."  Với những lời giai điệu cũng có nét nửa cung.

Giai điệu "Sáng trong rừng" được viết theo điệu D / rê thứ. Mặc dù các điệu thứ được nghe như buồn, bài ca này có những nét hành khúc nghe vui vui.  Như vậy cái "buồn buồn, vui vui" của một buổi sáng cắm trại trong rừng" là như thế nào?  Việc cắm trại lẫn lộn có cái vui là được sinh hoạt tập thể của đoạn và cái buồn nhớ của các em nhỏ chưa từng xa nhà.  Xa nhà là mất phương hướng thì dễ được "thấy trái tim thêm nồng nàn."

9 tháng 2, 2017

cô đầu làm quảng cáo

-- Mới ngày nào chị còn ho xù xụ, mà nay đã ra hát được rồi à!
-- Em mất bạc trầm rồi đấy, mà không khỏi, may có người mách đến Võ Văn Vân 86 hàng Bông thì em mới được như vậy.

nguồn: Ngày Nay #207 (11 mai 1940), tr. 3.

Ngày xưa các cô đầu là hot girl, phải không?  Họ có địa vị để được làm quảng cáo.  Xem quảng cáo này nữa để hiểu biết thêm về văn hóa phi vật thể.


7 tháng 2, 2017

Khuyên học (Advise To Study) - Tản Đà (1935)

"Chữ Nho bây giờ suy,
Học nữa mà làm chi!
Chữ Tây đúng thời thế,
Nhưng nhiều quá thì ế!"

Ấy từ năm đã lâu
Tố có làm mấy câu,
Mà bây gìơ xem ra
Thật quả không sai ngoa.
Cũ, nay đã gần hết,
Mới, cũng lắm kẻ chết.
Kinh tế càng khó khăn,
Mới, cũ, cùng nhó nhăn.
Kẻ soay nghề báo chí,
Văn chương ngày nhảm nhí.
Kẻ theo đường công danh,
Danh lợi trèo bấp bênh.
Đường đời đã khó đi,
Gáng nặng thêm thê nhi.
Gia đình vác chưa nổi,
Nói gì đến xã hội?
Thân thế tính chưa xong,
Nói gì đến non sông?
Ngày qua tháng lại qua,
Mỗi năm người mỗi già.
Lông cùn, sắt cũng rỉ,
Tang bồng, ôi chí khí!
Gió thu sầu năm canh,
Hiu hắt ngọn đèn xanh.
Nhớ ai người xa xuôi,
Nhắn nhau một đôi lời:
Cuộc đời phải lăn lóc,
Cười nhạt còn hơn khóc.
Chúng ta đời bố chẳng ra chi,
Có con cứ phải cho đi học!

Advice to Study 

"Now Chinese characters are in decline,
What's the use of continuing to study them!
Western characters are right for the times,
But if you know too much you're unmarketable!"

Since those years it's been awhile,
I wrote a few sentences,
That looking over today
Truly aren't wrong in the least.
The old is now nearly gone,
As for the new, it's killed not a few.
As the economy gets worse,
The new and old get mixed and twisted together.
Those who manage to work for newspapers
Find a rocky climb to fame and wealth.
Life's road is hard enough to travel,
And the burden's heavier if you add a wife and children.
Even if your shoulders can support a family,
What's to be done about society?
Though the lengths of our lives have yet to be fully reckoned,
What's to be done for the motherland?
The days, then the months go past,
Every year the body is that much older.
Hides wear down, iron also rusts,
Of duties to society, oh, how to keep the will strong!
The sad autumn wind throughout the long night
Blows lightly on the dim lamp.
Who do I miss, oh far-off one,
Let's recall together a few words:
In life you have to indulge a bit,
Even a grudging smile beats tears.
The lives of we fathers haven't amounted to anything,
But if you have children, you must let them study!


nguồn: Phong Hóa 165 (6 décembre 1935), tr. 4.

5 tháng 2, 2017

Đội nhạc Câu lạc bộ thiếu niên Hà Nội (1976?)

ảnh của Nguyễn Văn Cự, Viện khảo cổ học

Nguồn: Hải Như, "Khi văn hoá đi sâu quần chúng," Giải Phóng #201 (14 tháng 3 1976), tr. 3.


Một hình ảnh rất đẹp.  Các em tập trung để hòa hợp với nhau luôn luôn là việc đáng mừng.

Trong tấm ảnh này tôi chỉ nhìn thấy các đàn ghita và đàn violin.  Không biết các em chơi chung một giai điệu hay có hòa âm nữa.

Bài viết của Hải Như đi cùng tấm ảnh trích một số lời của Hồ Chí Minh như "... [Q]uần chúng không phải chỉ sáng tạo ra những của cải vật chất cho xã hội. Quần chúng còn là người sáng tác nữa."  Sinh hoạt như trên rất hữu ích cho một quần chúng được sáng tạo.  Không biết hiện nay ở Việt Nam các em còn được tập chơi nhạc với nhau?

4 tháng 2, 2017

musique Hanoienne - âm nhạc Hanoi (1907)

Concerts : Musique militaire.  En hivers, le jeudi de 4 h. 1/2 à 5 h. 1/2, au square Paul-Bert, le dimanche, à la même heure, au Jardin botanique. -- En été, le jeudi et le dimanche, de 8 h. 1/2 à 9 h. 1/2 du soir.
     Société philharmonique, à l'hôtel de la Société, au Petit Lac. (Fréquentes soirées. Les étrangers, de passage, peuvent s'y faire inscrire pour recevoir une invitation).
     Particuliers à L'Hôtel Métropole. été et hiver; à Hanoi Hôtel, l'hiver.

Các buổi hòa nhạc : Quân nhạc. Mùa đông, ngày thứ tư từ 4 rưỡi đến 5 rưỡi, ở quảng trường Paul Bert, ngày chủ nhật, cùng thời gian ấy ở Vườn Bách Thảo. -- Mùa hè, ngày thứ ba và ngày chủ nhật, từ 8 rưỡi đến 9 rưỡi buổi tối.
     Hội nhạc, ở Khách Sạn Xã Hội, ở Hồ Gươm. (Nhiều đêm. Khách ngoại quốc, người đi qua, có thể đăng ký để nhận được lời mời).
     Đặc biệt ở Khách Sạn Métropole. Mùa hè và mùa Đông; ở Khách Sạn Hanoi, mùa đông.


nguồn: Tonkin du sud: Hanoi (Paris: Comité de l'Asie française, 1907).


Năm 1907 rất có thể người Hà Nội chưa có khái niệm concert / buổi hòa nhạc.  Người ta làm nhạc, nghe nhạc sinh hoạt hay đi coi tuồng, chèo.  Các concert là do người thực dân cho người thực dân hay người nước ngoại.  Thời kỳ đó chưa có đài phát thanh và nhạc trên đĩa hát chưa được phát triển mấy, thì chắc người thực dân rất khát nghe nhạc quê hương.

Quân nhạc biểu diễn ở ngoài trời thì bất cứ ai có thể đến nghe.  Hai chỗ quảng trường Paul Bert và Vườn Bách Thảo đều có vọng lâu cho các nhạc công.




3 tháng 2, 2017

tranh bìa báo Học Sinh 28 tháng 12 1939 của Đặng Thế Phong


nguồn: Học Sinh số đặc biệt (28 tháng 12 1939) tr. 1.


Trong quyển Hồi Ký (Hà Nội: Nxb. Hội Nhà văn; Công ty Văn Hóa và Truyền thông Nhã Nam, 2012), nhà văn Phạm Cao Củng kể rằng Đặng Thế Phong đã vẽ tranh và minh họa cho báo Học Sinh để kiếm sống.

Ở trên là tranh bìa của Học Sinh số đặc biệt cho "Các em gái."  Có chữ ký của Đặng Thế Phong (tức Thế Phong - thephong) ở góc dưới bên phải.

Tại sao các cô thiếu môi, cằm và tay?  Vì đây vốn là tranh màu.  Khi chụp lên vi-phim / microfilm thì mất màu sắc mà chỉ còn đen và trắng.

Tôi cũng đoán rằng đây là thêm một tranh của Đặng Thế Phong vẽ:

Ở góc trên bên phải có chữ "Levent." Tiếng Pháp "vent" là gió, và gió là phong.