Ngọc chuyễn dịch từ bản thảo Anh ngữ "Phạm Duy's Travels through History", Tạp chí
Văn 15 tháng 11 2002
Tôi rất hân hạnh
được phát biểu trước quý vị hôm nay tại một buổi hội luận quan trọng
như thế này. Thật là đáng ngại phải phát biểu trước một cử tọa quảng
bác đã sống với nhạc Phạm Duy, và thậm chí tôi còn phải e sợ hơn nữa
khi trình bày trước mặt đề tài bài nói chuyện của tôi. Tôi biết tôi
không thể bắt đầu từ một sự nghiệp âm nhạc phong phú đa dạng như vậy
để xét đoán nhạc Phạm Duy, vì thế tôi sẽ chỉ chọn một mảnh nhỏ hẹp
trong số tác phẩm của ông. Việc khảo cứu của tôi từ bấy lâu chuyên về
ca khúc Việt Nam hiện đại. Tuy trọng tâm của tôi đặt vào âm nhạc, thật
khó có thể tách rời âm nhạc khỏi những biến cố lịch sử rộng lớn hơn,
nhất là trong trường hợp Việt Nam, đất nước mang một lịch sử gian nan
đầy tranh chấp. Trong bài nói chuyện của tôi hôm nay, tôi muốn nói về
một phần nhạc Phạm Duy thể hiện kinh nghiệm sống trong những thời kỳ
hết sức gian nan. Tôi xin được nói ca khúc của ông là sự phản hồi
trung thực trước những biến cố thường là hi hữu, và do đó là hình ảnh
chính xác của những thời kỳ này.
Suốt dòng đời Phạm
Duy, Việt Nam là một nước thuộc địa, bị chiếm đóng trong Thế Chiến,
chịu nạn đói, đấu tranh giải phóng dân tộc, trải qua cuộc chiến người
Việt đánh người Việt, kinh qua bất ổn về chính trị, và sau hết hàng
trăm ngàn người Việt bỏ nước ra đi làm thân tị nạn rải khắp bốn phương
tám hướng. Người ta có thể hiểu ý nghĩa lâu bền của một tác phẩm như
"Truyện Kiều" của Nguyễn Du với những câu như:
Trải qua một cuộc bể dâu,
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.
Người nghệ sĩ sáng tác đóng vai trò gì trong những giai đoạn phức tạp
như vậy? Tôi cho rằng họ làm chứng nhân, và biểu lộ những gì đẹp nhất,
cao quý nhất của nhân sinh.
Năm 1946 Việt Nam ở vào đêm trừ tịch của cuộc kháng chiến chống Pháp.
Phạm Duy viết một ca khúc mà chính ông cũng đã quên, tựa đề "Phương
Trời Xa". Hai câu đầu của bài hát như sau:
Một bước ra đi không cần hoài nghi
Nhắm tới phương trời xa xa ca khúc nhạc đời!
Tiếng Anh chúng tôi có thành ngữ "Coi chừng điều bạn ước, có ngày sẽ
gặp" (1). Từ bước đầu tiên ấy, khi gia nhập
kháng chiến, lên đường với cây đàn trên tay, ông không ngừng vận hành
theo "nhạc đời". Những ai trong quý vị biết về Phạm Duy đều biết ông
vẫn liên tục trên bước đường - qua Paris, London, Hà Nội, Sài Gòn và
khắp vùng Bắc Mỹ. Trong bài này tôi muốn nói đến một vài cuộc lữ hành
những năm đầu cuộc đời sáng tác của ông đã đưa ông va chạm với những
biến cố lịch sử, và những nhận thức ông đem đến cho chúng ta về lịch
sử, về đời sống.
Nếu quý vị chưa đọc, tôi xin được mời tất cả quý vị đọc hồi ký của
Phạm Duy về giai đoạn này. Những trang hồi ký chứng tỏ lòng yêu nước
Việt không mệt mỏi diễn đạt bởi con người mang nhiệt huyết nghệ sĩ vô
bờ. Ông viết nhiều bài hát cho kháng chiến như "Nhạc Tuổi Xanh", "Khởi
Hành", và "Nhớ Người Thương Binh". Những ca khúc này rất phổ thông và
được giới lãnh đạo Việt Minh đánh giá rất cao. Lúc này ông cũng hiểu
ra chủ nghĩa xã hội với nghệ thuật chủ đích tìm vào đề tài hiện thực
và sử dụng cuộc đấu tranh trong thực tế để tạo ra những điển hình
khích động quần chúng. Phương thức này có thể dẫn đến những thể hiện
một chiều, giáo điều, nhưng qua tay Phạm Duy chúng ta có được những
hình tượng bất hủ mạnh mẽ, vì những nhân vật của ông có thật bằng
xương bằng thịt và vì ông nắm bắt được cái hồn của sự việc.
Một số ca khúc đặc sắc nhất của ông viết trong chuyến công tác ông đảm
nhận đi cùng một nhóm nhỏ các nghệ sĩ từ Thanh Hóa ở liên khu 4 đến
Thừa Thiên ở liên khu 5. Chuyến đi này cực kỳ nguy hiểm, đưa ông đến
vùng có những bạo hành khủng khiếp tàn hại dân làng vốn dĩ đã nghèo
khổ. Đây là một vùng sâu trong thời kỳ vệ tinh và phóng viên toàn cầu
chưa phổ biến, do đó những sự việc này không hề được công bố. Những ca
khúc của Phạm Duy có lẽ là bản tường trình chính xác nhất chúng ta có
được. Tôi muốn đem chương 29 tập hai hồi ký của ông, đoạn ông mô tả
chuyến đi, làm tài liệu bắt buộc cho sinh viên muốn học về lịch sử
Việt Nam thế kỷ 20.
Trường hợp ông đảm nhận công tác này cũng rất đặc biệt. Ông vừa đính
ước với người vợ tương lai, Thái Hằng, lúc ấy ông cảm thấy bị áp lực
phải đi để thuyết phục vợ và thượng cấp rằng ông là người nghiêm túc
và sẽ từ bỏ cuộc đời đãng tử. Chuyến đi đưa đến nhiều ca khúc đặc sắc
- "Bao Giờ Anh Lấy Đồn Tây"(2), "Về Miền
Trung", "Mười Hai Lời Ru", và "Bà Mẹ Gio Linh". "Về Miền Trung" là bản
tả thực sắc nét một khung cảnh trải qua bao đau thương không cùng. "Bà
Mẹ Gio Linh" là câu chuyện người mẹ một chiến sĩ bị Tây chém đầu.
Người mẹ ra chợ nhặt lại cái đầu đứt lìa của con. Quang cảnh này cực
kỳ mãnh liệt và xúc động. Tôi có nghe một cuộc phỏng vấn ca sĩ Thái
Thanh trên đài phát thanh, cô kể mỗi lần hát cô lại xúc động ứa nước
mắt. Nhưng hơn cả cảm xúc của sự kiện, bài hát là lời chứng đời đời
cho tình yêu và lòng can đảm trong những giai đoạn cực kỳ đau thương
nguy hiểm.
Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, ông trở lại Thanh Hóa, kết hôn. Chẳng bao
lâu sau ông lại đi bộ một chuyến nữa, lần này với người vợ mới cưới
đang mang thai, đến Việt Bắc, nơi giới lãnh đạo văn hóa của Việt Minh
mời ông tham dự Đại Hội Văn Nghệ năm 1950. Giới lãnh đạo biết rất rõ
hiệu quả và tính phổ thông của ca khúc của ông. Trong khi chuyến đi
này không đem lại cho chúng ta bản nhạc nào, nó lại dẫn đến tình huống
giúp chúng ta có được những ca khúc sau đó. Trong cuộc họp, nhạc sĩ
lão thành Nguyễn Xuân Khoát báo cho ông quyết định của lãnh đạo gửi
ông đi dự một hội nghị quốc tế ở Đông Đức - một vinh dự lớn lao mà hầu
như bất kỳ nhạc sĩ đồng chí nào của Phạm Duy trong kháng chiến cũng sẽ
hân hoan đón nhận. Phạm Duy từ chối đề nghị này, nói rằng ông không
thể đi không có vợ bên cạnh, cảm thấy ông cần có mặt bên vợ khi bà
sinh nở. Nhưng nếu đọc hồi ký của ông, hình như lý do thực sự là ông
khó chịu trước sự khống chế nghệ thuật tập trung tăng dần từ giới lãnh
đạo Việt Minh. Nhạc sĩ Tô Vũ kể với tôi chuyện ông được cử đi tìm Phạm
Duy để bảo ông rằng lãnh đạo đã khoan hồng và đồng ý cho phép vợ ông
đi cùng ông nếu ông chịu đi Đức. Tô Vũ không gặp được ông, nhưng khẳng
định là nếu ông gặp được, Phạm Duy có lẽ đã ở lại với kháng chiến. Cá
nhân tôi không nghĩ ông sẽ ở lại.
Trong lần trở lại Thanh Hóa, không khí nghệ thuật đã thay đổi đầy kịch
tính. Tướng Nguyễn Sơn, người ủng hộ nghệ sĩ trí thức hết mình, bị
thay thế, và thành phần lãnh đạo mới chú trọng nhiều hơn vào việc tăng
cường kỷ luật. Theo một nguồn tư liệu tôi phỏng vấn được, Phạm Duy và
gia đình thỉnh thoảng bị quản thúc. Sự đổi thay điều kiện hoạt động,
thêm vào mối lo cho vợ và con trai mới sinh đưa ông rời bỏ kháng chiến
hồi cư về Hà Nội.
Chuyển biến lớn kế tiếp trong đời Phạm Duy thực chất là việc tiên liệu
cuộc di cư vĩ đại dân chúng miền Bắc vào Nam diễn ra từ đầu đến giữa
thập niên 50. Trong hồi ký, ông viết năm 1950 ở Việt Bắc ông đã biết
Việt Minh sau cùng sẽ đánh bại Pháp, do đó ông hẳn đã dự liệu ông sẽ
rời bỏ phe chiến thắng, và có lẽ chưa nhất định liệu trong tương lai
ông có thể trở về Hà Nội, sinh quán của ông. Hành trình từ Bắc vào Nam
cùng với gần một triệu đồng hương, được diễn tả qua những ca khúc như
"Tình Hoài Hương", "Tình Ca", "Thuyền Viễn Xứ", . "Tình Hoài Hương" là
hình ảnh một Việt Nam lý tưởng, một quê hương lý tưởng. Nhưng quê
hương trong bài hát là một quê hương mà tác giả nuối tiếc đã mất đối
với ông. "Tình Ca" là tình khúc cho nước Việt ấy, cho tiếng nói, giang
sơn, và người dân. Nhưng đây là ý thức trở nên khẩn thiết trên bối
cảnh đất nước chiến tranh, bên bờ chia cắt. Với những gì Việt Nam trải
qua, làm sao tất cả những yếu tố này có thể tồn tại? Phạm Duy xác định
sự tồn tại của quốc gia qua tiếng nói, qua lời mẹ ru, câu Kiều, qua
miệng cười thiếu nữ, qua sức lao động miệt mài của nông dân nghèo.
Đến 1954, có hai nước Việt Nam. Trước thảm trạng này, Phạm Duy viết
một ca khúc về cuộc lữ hành tưởng tượng và bất khả thi lúc ấy dọc
chiều dài Việt Nam từ Bắc xuống Nam - "Con Đường Cái Quan". Trước đó
Phạm Duy đã du hành tương tự dưới những tình huống rất khác, là thành
viên gánh hát cải lương Đức Huy năm 1944. Người lữ khách của trường ca
này cũng là một ca nhân, nhưng ông không du hành để biểu diễn, mà để
gặp gỡ và tái hợp người người trên đường ông đi dọc chiều dài đất
nước. Tác phẩm này được coi như là một kiệt tác và tôi tin rằng sức
sống của nó xuất phát từ những diễn biến phức tạp vốn đã sinh ra cảm
xúc cho cảnh sống trong một đất nước bị chia cắt.
Một kết quả tốt đẹp khác của những vốn sống lãng du khắp đất nước của
Phạm Duy là việc khảo cứu dân ca. Lần đầu tiên tôi biết đến Phạm Duy
là khi đọc quyển "Đặc Khảo về Dân Nhạc ở Việt Nam" (Musics of Vietnam)
của ông và hai dĩa nhạc ông thực hiện cho một hãng dĩa Mỹ, Folkways
Records. Ông soạn hai bài dân ca mới thể hiện kiến thức này, và giúp
duy trì phát triển nhạc dân tộc Việt Nam. Ông cũng sang Mỹ để giúp phổ
biến những hiểu biết về Việt Nam và âm nhạc Việt Nam.
Quyển "Tìm Hiểu Việt Nam" (
Understanding Vietnam) của Neil Jameson kể
lại lần Phạm Duy trình diễn trên truyền hình Mỹ trong một lần đi này.
Lần ấy ông hát cho khán giả nghe ca khúc "Nhân Danh". Đó là một ca
khúc nhức nhối, hiển nhiên mối thù hận khát máu tăng dần sức hủy diệt.
Vì giữ mình tôi phải giết một người
Vì gia đình tôi phải giết mười người
Vì xóm làng tôi phải giết ngàn người
Jameson viết: "Câu cuối được hát lên chói tai, lạc điệu. Sau một khắc
lặng im sững sờ, cử tọa đang bàng hoàng bắt đầu vỗ tay tán thưởng.
Nhưng Phạm Duy, nhà nghệ sĩ biểu diễn bậc thầy, ngắt ngang tiếng vỗ
tay khi đến hồi nhiệt liệt nhất. Ông bảo mất mát và hủy diệt chỉ để
hối tiếc, không bao giờ hoan nghênh hay tặng thưởng. Rồi ông bắt đầu
hát lại, trình bày một khía cạnh mới: Vì giữ mình tôi phải cứu." (3)
Đây là một Phạm Duy nhận biết rất rõ sự tàn phá của chiến tranh, sự
chai sạn có thể có với bạo lực không cùng. Một trong những ca khúc
nhức nhối nhất của ông viết trong lần thứ hai đến Hoa kỳ năm 1970. Đây
là thời điểm công chúng Mỹ biết đến sự cố gọi là "Thảm sát Mỹ Lai".
Đây là một trong những thời khắc đen tối quay cuồng trong lịch sử nước
tôi. Người Mỹ chúng tôi luôn luôn tưởng tượng mình là những "chính
diện" nón trắng đến giải cứu để thế giới tốt đẹp hơn. Bỗng dưng chúng
tôi phải đối diện với thực tế có những bối cảnh mà đồng bào tôi có thể
gây ra tội ác khủng khiếp. Phạm Duy thấy mình trong một phòng khách
sạn ở New York, một mặt xa rời cuộc chiến ở quê nhà, mặt khác qua báo
chí, ở giữa trạng thái tự nhận diện thảm hại của nước Mỹ.
Ca khúc ông viết trong tình huống này, tựa đề "Kể Chuyện Đi Xa", về
buổi hội ngộ của người cha và các con sau chuyến đi từ nước ngoài. Ca
khúc trong lần trình diễn này mở đầu với hồi kèn lạc lõng - người cha
của những đứa trẻ, thân yêu và khả kính, trở về như một anh hùng.
Nhưng ông không cảm thấy mình là anh hùng. Những diễn biến ông nhận
thấy trên thế giới khiến ông cảm thấy thua cuộc. Những đứa con ngây
thơ nài nỉ "Cha ơi, cha ơi, cha đã đi nhiều! Cha đi đâu? Cha thấy gì?
Kể chúng con nghe đi cha". Chúng ta nghe một giọng nói, mỏi mệt vì
thấu hiểu bất công trên thế giới, trước tiên kể những điều tốt đẹp ông
đã nghe đã thấy. Rồi ông phải đối chiếu những điều tốt đẹp này với sự
xấu xa của thế giới - "Mỹ Lai đã thành món quà Giáng Sinh". Ông có thể
tưởng tượng mọi người lợi dụng chiến tranh trục lợi cá nhân, buôn
súng, và tự thỏa mãn.
Có một thành ngữ Việt Nam - "Đi một ngày đàng, học một sàng khôn".
Trong chuyến đi này, sàng khôn của Phạm Duy đầy lên, bung rách. Ông
kết thúc "Cha cứ đi hoài? Chỉ buồn thêm thôi". Nhưng với tôi ca khúc
này rất tuyệt và rất hợp lúc, vì nó nói lên tình hình hiện tại cho tất
cả chúng ta. Trong khi ông hát về những diễn biến ở một thời điểm nhất
định trên quê hương ông, ông đồng thời phát ngôn vấn đề nan giải chung
của chúng ta. Ông đối diện với nhận thức rằng nhân loại, mặc cho bao
nhiêu tôn chỉ tiến bộ và văn minh, vẫn có thể có bạo lực và tham tàn
không nói hết được, đôi khi thậm chí không hay biết việc mình đang
làm. Và nhân loại xem ra không đủ sức ngăn chận sự vô nhân đạo này.
Tôi thấy rõ điều này trên thế giới ngày 9-11, mâu thuẫn Trung Đông,
Nam Tư cũ, Phi châu, và nhiều nơi khác. Vì thế Phạm Duy đã viết một
bài hát mạnh mẽ vượt qua những nền văn hóa và nói lên những rối ren
dai dẳng của tình hình hiện tại.
Nhưng tôi không muốn kết thúc trong âm sắc tuyệt vọng. Còn một nơi nữa
Phạm Duy đã đến, không xa trong không gian, mà rất xa với những gì từ
các cuộc hành trình kia. Đây là hành trình vào địa đàng. Mặc cho những
hiểm nguy và thương đau có thể bão hòa bất kỳ ai trong chúng ta, lúc
nào cũng vẫn còn chỗ cho tình yêu và hoan lạc. Phạm Duy viết quá nhiều
và quá hay về cuộc hành trình ái ân này, tôi thậm chí không cố gắng
liệt kê các ca khúc. Nhưng tôi đặc biệt nghĩ đến bài "Giã Từ Ác Mộng"
viết gần như cùng lúc với bài tôi vừa kể. Trong bài hát này là chuyến
đi cùng nhau vào Địa Đàng.
Ta đưa nhau đến cõi địa đàng
Về một nơi sông dài nước rộng
Ta yêu nhau trên bãi cỏ hoang
Tôi nghĩ tầm quan trọng của Phạm Duy xuất phát từ việc ông có thể vừa
nhìn vào ác mộng rong mắt vừa quay lưng lại ác mộng và tìm về thế giới
đam mê ngập tràn.
Kết thúc "Kiều",
Nguyễn Du viết:
"Chữ tài liền
với chữ tai một vần"
Nói cách khác, người có tài năng sẽ gặp tai ương. Phạm Duy rõ ràng đã
lâm vào những tai ương - ông chứng kiến những đau thương của chiến
tranh, ông bị buộc phải rời quê hương hai lần. Và rồi Phạm Duy diễn
dịch tai ương vào ca khúc mang lại sự hiểu biết, và thậm chí ở mức độ
nào đó, ý nghĩa cho một giai đoạn khó khăn trong lịch sử. Phạm Duy
viết quá nhiều ca khúc với thật nhiều đề tài từ thật nhiều quan điểm
mà tôi biết có những chỉ trích về ông cho sự không đồng nhất hoặc
không gắn bó trung thành với một lý thuyết hay lý tưởng định sẵn.
Thế nhưng tôi nhìn
thấy sự nhất quán rõ ràng xuyên suốt tác phẩm của ông - tình yêu đất
nước, yêu đồng bào, và tôi nghĩ một tình yêu lớn lao hơn cho cuộc đời
và tình yêu nhân sinh. Tôi thích những lời ông muốn dùng để viết trong
bài "Viễn Du":
Phiêu du
Khắp nẻo đây đó .. Bỗng người say sưa
Thấy hoàn cầu mơ khúc đại đồng ca
Ca khúc Phạm Duy, trong khi có lẽ thuộc về dân tộc Việt Nam, rất quan
trọng cho tất cả chúng ta. Chúng đem lại cho chúng ta sự hiểu biết về
nhân sinh trong những thời kỳ đen tối nhất và tốt đẹp nhất.
Chú thích của người dịch:
-
"Be careful what
you wish for, yet may just get it"
-
Sau đổi thành
"Quê Nghèo" cùng với một vài sửa đổi trong lời ca
-
"The final line
was sung harshly, out of cadence. After a moment of stunned silence
the shocked audience began to applaud. But Pham Duy, master showman,
cut off the applause as it approached its peak. Loss and
destruction, he told them, are only to be regretted, never applauded
nor prized. He then began to sing again, providing a new perspective
- For my defense I must save, must save, save one man, save one man
."