Hiển thị các bài đăng có nhãn hòa bình. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn hòa bình. Hiển thị tất cả bài đăng

29 tháng 3, 2018

Đoàn đại biểu Việt Nam tham gia Hội Nghị Hòa Bình năm 1951 rong chơi ở San Francisco


Các đại biểu cùng gia đình ăn các đặc sản Mỹ ở Công viên Giải trí Playland at the Beach
 

 
Các đại biểu cùng gia đình ở ngoài nhà hàng Cliff House
 

 
Các đại biểu với cảnh bờ biển Thái Bình Dương
 

Mồng 8 tháng chín năm 1951 ở San Francisco là ngày ký Hiệp Ước Hòa Bình Japan (Treaty of Peace with Japan) cũng được gọi là Hiệp Ước San Francisco (Treaty of San Francisco).  Trong 51 quốc gia tham gia hội nghị này cũng có các nước Cambodia, Lào, và Việt Nam.  Một vài nước cộng sản cũng tham gia hội nghị như Liên Xô, Ba Lan nhưng rút cuộc họ chống đối và không ký hiệp ước này.

Nói là Việt Nam tham gia thì chưa chính xác trăm phần trăm.  Đây là État du Vietnam (Quốc Gia Việt Nam) của Union indochinoise (Liên Ban Đông Dương) mà cũng thuộc Union française (Liên Hiệp Pháp).

Dưới đây là tên các đại biểu người Việt Nam.

T. V. Huu (Trần Văn Hữu)
T. Vinh (Nguyễn Trung Vinh)
D. Thanh (Nguyễn Duy Thanh)
Buu Kinh (Bửu Kính)

Đoàn đại biểu cũng phải làm nhiều việc trong Hội nghị này. Trong đó họ cũng ban đến vấn đề Trường Sa, Hoàng Sa.

Nếu muốn xem các tấm ảnh này cỡ lớn thì vào link này.

16 tháng 1, 2017

Kỷ niệm 19-12: Đẩy mạnh kháng chiến cải các ruộng đất, bảo vệ hòa bình thế giới (1953)


nguồn: Lao Động số 235 19 tháng 12 1953, bia.


"xâm lược" "tô túc"
"Peace in Vietnam" "мир" "Paix au Vietnam"

Gương mẫu của Việt Nam xã hội chủ nghĩa là bà người - chú bộ đội, anh công nhân và chị nông dân.  Cả ba đều trẻ, đều khỏe.  Hai khuôn mặt các chàng trai ở trên rất dữ.  Đòi hòa bình trên nòng súng, bằng cú đấm của cây búa, bằng cải cách ruộng đất.  Hòa bình có nghĩa đánh kẻ thù đến cùng.

Ba gương mẫu rất to và oai - dưới chân có các kẻ ăn bám sức và trí tuệ của các nhà cách mạng trẻ.  Phải nói là anh công nhân trông rất cộng sản quốc tế với quần yếm và mũ nồi.

2 tháng 2, 2014

Pete Seeger và Việt Nam

Ngày vừa rồi blog này có một bài về viết lúc Phạm Duy tham gia chương trình truyền hình của Pete Seeger năm 1966.  Phạm Duy được sang Mỹ theo sự bảo lãnh của Bộ Ngoại Giao Mỹ để trao lưu văn hóa cho nước Việt Nam Cộng Hòa.  Tôi đề cập đến thông tin này vì Peter Seeger là một người cộng sản trăm phần trăm và cũng là một người có cảm tình với chế độ cộng sản ở miền Bắc.  Nói thế cũng có nghĩa là Seeger coi trọng văn hóa cao hơn hơn chính trị.

Năm 1972 Peter Seeger cùng vợ (Toshi) và một đứa con gái (Tinya) được mời sang Hà Nội.  Ông viết một bức thư cho bố ông (là nhà dân tộc nhạc học nổi tiếng Charles Seeger) ngày 9 tháng 3 rằng ông cùng gia đình ông đang đi trên máy bay từ Moscow đến Hà Nội.  Ông viết một bài nhật kỳ "Hanoi Diary, 1972" cho tạp chí Eastern Horizon số 11 tháng 4 1972 (đăng lại trong quyển Pete Seeger In His Own Words, Paradigm Books, 2012).  Nhật kỳ này viết từ 10 đến 18 tháng 3 1972.  Ngày 21 tháng 3 ông cùng gia đình giã từ Hà Nội để lên Bắc Kinh của Bác Mao.  Còn có một tư liệu nữa viết về chuyến đi này là bài "Strummin' Banjo in North Vietnam" ("Gẩy đàn ban-giô ở Bắc Việt Nam" trong tạp chí Saturday Review 13 tháng 5 1972, tr. 28-32).

Mới xuống máy bay ông kể "Huge bouquets of flowers are put in our arms, and we are kissed and hugged" [Những bó hoa khổng lộ được đưa vào tai chúng tôi, còn chúng tôi được hôn và ôm nữa].

Pete Seeger cầm đàn ban giô nói chuyện với các nhạc sĩ Việt Nam (nguồn: Saturday Review 13/5/1972)

Ngày 12 tháng 3 ông đến 51 Trần Hưng Đạo để nói chuyện và trao đổi về văn hóa.  "We hear a great variety of Vietnamese music, from the Western-influenced modern compositions to ancient traditional music" [Chúng tôi được nghe nhiều loại nhạc Việt, từ các tác phẩm hiện đại chịu ảnh hưởng phương Tây đến nhạc truyền thống cổ xưa]. Họp xong, ông đi mua sắm đôi dép cao su kiểu Bác Hồ.  Rồi ông làm một chương trình 15 phút cho truyền hình Hà Nội.

Ông được đến một làng cách Hà Nội 12 miles (19 cây số) với một máy ghi âm để nghe dân ca.  "We're treated like VIPSs and are allowed to pass ahead of a long military convoy" [Chúng tôi được đối xử như các nhân vật rất quan trọng và được lái xe vượt qua một đoàn xe quân lực dài].  Ông thăm trường làng và hát dân ca Mỹ cho các em.  Ăn trưa, uống cà phê, chè và bia xong, ông được nghe dân ca quan họ.  "On the way home our interpreter says, 'I really think this tyle of music would have died out if not for the revolution" [Trên chuyến về người phiên dịch của chúng tôi nói, "Thú thật tôi cũng nghĩ rằng nhạc này đã chết rồi nếu không có cách mạng].

Về Hà Nội, Seeger hát cho một quần chúng 400 cán bộ văn hóa.  Theo phong cách của ông, ông khuyến khích khán giả hát chung một bài ("Wimoweh" - một dân ca Nam Phi).  Hôm 14 và 15 ông cùng gia đình được đi Vịnh Hạ Long du lịch.

Ông nhắc đến cuộc gặp gỡ hai nhà văn Chế Lan Viên và Lưu Quý Kỳ, nhưng không nhắc đến nhạc sĩ sáng tác nào.  Seeger cũng được gặp nghệ sĩ Đoàn Anh Tuấn để tìm hiểu thêm về nhạc dân gian Việt Nam.  Đoàn Anh Tuấn giới thiệu một tác phẩm mới của Huy Thục.

Ông thu một số chương trình cho Đài Tiếng Nói Việt Nam (không biết họ còn có trong kho lưu trữ?).  Một trong những tác phẩm Seeger chọn để hát là "Give Peace A Chance" (Hãy cho hòa bình một cơ hội) của John Lennon.  Để xem quần chúng ngày biểu tình trong một phim tư liệu xem link này.


Cờ Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam bay ở thủ đô Washington 15 tháng 11 1969 ngày của cái gọi là Moratorium March on Washington, tức Moratorium March to End the War (Hành quân đình chỉ để kết thức chiến tranh ở Washington) lúc Pete Seeger hát "Give Peace a Chance."

Việc thu thanh cho các chương trình đài phát thanh ở Hà Nội làm quân đội và Bộ Ngoại Giao rất bực mình.  Seeger phát biểu cho lính Mỹ nghe, vậy họ lo rằng sẽ có chiến sĩ thấy khó chịu hay mất khí chiến đấu.

Phạm Tuyên nhắc cho nhà nghiên cứu âm nhạc Barley Norton rằng ông đã có điều kiện xem một phim của cuộc biểu tình ấy (xem "Vietnamese Popular Song in '1968': War, Protest and Sentimentalism" trong quyển Music and Protest in 1968 (Cambridge University Press, 2013).  Chính việc nghe và xem Pete Seeger trước quần chúng phản chiến đã gây cảm hứng cho Phạm Tuyên soạn ca khúc "Gảy đàn lên hỡi người bạn Mỹ" (in trong tạp chí Văn Nghệ 13 tháng 3 1970).  Rồi ngay trước khi Seeger tới Hà Nội, Phạm Tuyên viết thêm một tác phẩm "Chào tiếng hát đấu tranh từ nước Mỹ" (in trong tạp chí Văn Nghệ 10 tháng 3 1972).

Ở Hà Nội năm 1969 thì rất khó "cho hòa bình một cơ hội."  Một lý do tất nhiên là bởi vì chiến tranh đã đến Hà Nội rồi.  Một lý do nữa là nếu dân miền Bắc phát biểu ý kiến đòi hòa bình, không tham gia chiến tranh thì họ sẽ bị bắt và giam [xem đoàn về một tổ chức gọi là Mặt trần Hòa bình Dân chủ Chống Chiến tranh trong quyển Hanoi's War: An International History of the War for Peace in Vietnam (Cuộc chiến của Hà Nội: Một Lịch sử quốc tế của chiến tranh cho hòa bình ở Việt Nam) của Lien-Hang T. Nguyen (University of North Carolina Press, 2012).  Vụ Toán Xồm, Lộc Vàng cũng là một trường hợp tương tự].   Trong quyển History of the Vietnamese People (Lịch sử của người Việt - University of California Press, 2013) K. W. Taylor cũng viết rằng Lê Duẩn chủ trương chiến tranh ở miền Nam để củng cố quyển lực nội bộ.  Năm 1969 hòa bình không có cơ hội bên Mỹ hay bên Việt Nam.

Tự do ngôn luận là như thế này.  Treo cờ Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam ở thủ đô, không ai bị giam.  Peter Seeger đi vào "lòng địch" tỏ ý phải chiến của tổ quốc mình thì bị phê phán nặng nề, nhưng về nước không bị bắt.

Năm 2007 Seeger viết những lời này trong thư cho Phạm Tuyên: "As musicians, our art should overcome language barriers and differences in culture or politics to work for peace. (Là nhạc sĩ, nghệ thuật chúng ta nên vượt qua ranh giới ngôn ngữ và sự khác biệt về văn hóa và chính trị để làm cho hòa bình).

11 tháng 5, 2013

Lập trường Phạm Duy qua một bài hát

Đăng trên BBC Tiếng Việt 11 tháng 5 2013

Kể chuyện đi xa (Telling Stories Of Travelling Afar) - Phạm Duy (1970)

1
Cha ơi! Cha ơi!
Daddy! Daddy!
Cha đã đi nhiều!
You've travelled alot!
Đi những nơi nào?
Where have you gone?
Cha biết những gì?
What have you learned?
Kể chuyện con nghe.
Tell us some stories.
Cha biết những gì?
What have you learned?
Kể chuyện con nghe.
Tell us some stories.

Con ơi! Con ơi!
My child! My child
Cha đã đi từ ruộng đồng quê ta
I've gone from the rice paddies of our land
Lê gót trên hè của nhiều kinh đô
Dragged my heels across the sidewalks of many capitals
Châu Á đông người, ở rồi ra đi
Asia, with its crowds, then off to
Âu, Mỹ xa vời, tạt về Châu Phi
Europe, America far away, dropped down to Africa
Nhưng con ơi!
But my child!
Cha đã đi nhiều mà chẳng bao nhiêu
I've travelled alot, but not really so much
Cha đã la cà mà chẳng đi xa
I've knocked around a bit, but haven't really gone far
Con muốn nghe thì kể chuyện cho nghe
If you want to hear, I'll tell you story
Con ới! Con ơi! Con ơi! Con ời!
My child! My child! My child! My child 

2
Cha ơi ! Cha ơi ! 
Daddy! Daddy!
Cha đã đi nhiều!
You've travelled alot!
Đi những nơi nào?
Where have you gone to? 
Nghe thấy những gì?
What things have you seen?
Kể lại con nghe
Tell us again
Nghe thấy những gì?
What things have you seen?  
Kể lại con nghe.
Tell us again.

Con ơi! Con ơi!
My child! My child!
Cha đã nghe toàn là lời cao sang
I've heard all the high and mighty words
Nhân Ái, Nhân Quần ngập Đại Tây Dương!
Of Compassion, Community that overflow into the Atlantic!
Cha đã soi mình vào dòng sông Seine
I've seen my reflection in the Seine's current
Ôm ấp nhân tình ở ngọn Eiffel
Embraced a lover atop the Eiffel Tower
Nhưng con ơi!
But my child!
Trong lúc xuân tình vừa bừng hơi men
But from the time my youth came to ferment
Cha bỗng se mình vì chợt nghe lên
I suddenly felt unwell because I heard rising
Tiếng khóc la rền của Mẹ Gio Linh
The wailing sobs of the Gio Linh mother
Chen tiếng vô tình của bọn yêu tinh
Merged with sounds of indifference from the demons
Buôn súng buôn tiền, làm giầu lên trên
Who deal in guns and currency, getting rich upon
Thân xác dân hiền.
The corpses of gentle folk
Cuộc đời như điên
It's like life has gone mad
Nghe súng bom liền, nổ từ hai bên
Listening to continuous guns and bombs, exploding on two sides
Nghe tiếng dân mình chửi bọn lưu manh
Hearing our folk cursing the hooligans
Nghe thuế điên cuồng thịt gạo leo thang
Learning of insane taxation as meat and rice prices climb higher
Con ới! Con ơi! Con ơi! Con ời!
My child! My child! My child! My child!

3
Cha ơi! Cha ơi!
Daddy! Daddy!
Cha đã đi nhiều!
You travelled alot!
Đi những nơi nào?
Where have you gone?
Trông thấy những gì?
What things have you seen?
Thuật lại con nghe
Tell us again
Trông thấy những gì?
What things have you seen?
Thuật lại con nghe.
Tell us again.

Con ơi! Con ơi!
My child! My child!
Đêm Giáng Sinh (cuối năm) nào ở miền Tân Châu
On one Christmas (year's end) eve in the New World
Cha đứng trên lầu chọc trời trông theo
I stood atop a skyscraper looking at
Dân chúng ra vào, quà tặng khen nhau,
The folks coming and going, bearing gifts, complimenting each other
Chơi tuyết bên cầu, trẻ đùa xôn xao
Playing in the snow by the bridge, kids in a ruckus
Nhưng con ơi 
But my child
Trên những hoa đèn chập chờn công viên
Upon the latterns that flickered in the park
Bỗng thấy in hình một miền tre xanh
I suddenly see printed an image from a land of green bamboo
Đôi bé quê mình quỳ gục trên mương
A pair of kids from my homeland, slumped over in a ditch
Anh lớn tay choàng chịu đạn cho em
The elder shielded a bullet for the younger
Vết máu trên đường, một tràng liên thanh 
Blood stains the road, a burst of machine gun fire
Ôi! Mỹ Lai thành quà tặng No-en
Oh! Mỹ Lai is now a Christmas gift
Cho những thiên đường của từng con em
For the wonderland of these children
Trong những gia đình gọi là văn minh
In these families called civilized
Con ơi! Con ơi! Con ời! Cha ơi!
My child! My child! My child! My child!

4.
Cha ơi! Cha ơi!
Daddy! Daddy!
Cha đã đi nhiều!
You've travelled alot!
Cha đã đi nhiều
You've travelled alot!
Cha nhắn nhe gì?
What have you got to tell us?
Để tụi con nghe
Tell us kids
Cha nhắn nhe gì?
What have you got to tell us?
Để tụi con nghe.
Tell us kids.

Con ơi! Con ơi!
My child! My child!
Cha muốn thưa rằng:
I've got to admit
Địa cầu xoay nhanh
The globe's spinning fast
Kiếp sống thanh bình, người người mưu sinh
A tranquil existence, people earning their living
Sao nước non mình còn nhiều điêu linh
Why does our land still have so much misery
Ai đã cố tình đẩy cuộc đua tranh
Who has deliberately pushed us to fight?
Đem cháu con mình làm vật hi sinh
Bringing our children to become sacrificial objects
Đất nước hai miền chật chội oan khiên.
Our nation is cramped into two unjust regions
Ôi con ơi!
Oh children!
Cha có đi tìm một niềm vui riêng
I sought my own happiness
Cũng thấy thẹn thùng vì tội gom chung
Yet feel ashamed because of our common crimes
Thế giới lẫy lừng để một quê hương
This famed world leaves us a homeland
Chua xót vô vàn!
Of limitless pain!
Thật là vô lương
It's truly unconscionable
Cha muốn thưa rằng:
I have to admit:
Người Việt đau thương
The Vietnamese people are in pain
Thế giới âm thầm, thủ phạm lâu năm
The world's depressed, the culpits live long
Con ới! Con ơi! Con ơi! Con ời!
My child! My child! My child! My child!

CODA
Con ơi! Con ơi!
My child! My child!
Thế giới bên ngoài, cha đã đi nhiều
The world outside, I've travelled alot
Nhưng cha có đi hoài, chỉ buồn thêm thôi
But if I keep going, I'll just be sadder
Cha có đi hoài, chỉ buồn thêm thôi
If I keep going, I'll just be sadder
Chỉ buồn thêm thôi
I'll just be sadder
Chỉ buồn thêm thôi!
I'll just be sadder!


Bài ca "Kể chuyện đi xa" của Phạm Duy theo nhịp slow rock (12/8) bắt đầu với tiếng trumpet như kèn lệnh / fanfare.  Có những đoạn của các con hát (viết chữ ngả) được ban Bốn Phương (các nữ ca sĩ Quỳnh Giao, Vân Quỳnh, Vân Khanh và Vân Hòa) biểu diễn.  Chính Phạm Duy đánh vài người cha.  Bài ca được thu thanh lần duy nhất cho băng cát xét Jo Marcel 25 năm 1972.

Đây là một trong những bài ca của Phạm Duy mà ít người biết đến, chắc vì chỉ có tác giả mới hát được.  Bài ca này có tính thời sự kể về tình hình toàn cầu và Việt Nam cách đây hơn 40 năm.  Phạm Duy soạn bài ca này ở Mỹ - hình như ở thành phố New York năm 1970.  Phạm Duy năm ấy là du khách được nhà nước Mỹ ưu đãi. Trong chuyến đi ấy ông được biểu diễn nhiều chỗ kể cả trên đài truyền hình.

Lời ca của "Kể chuyện đi xa" có một tấm nhìn bao quát với chất tâm sự, tiêu sử, thời sự, và lịch sử.  Phạm Duy nhắc đến kinh nghiệm ông trải qua được kể lại cho các con.  Ông cũng ôn lại thông tin được biết đến qua sách báo.  Và tất cả các sự kiện đi qua cái lọc của bộ não và trái tim của ông.

Dù biết mình được ưu đãi - đã có điều kiện thăm nhiều xứ đẹp và lạ - Phạm Duy coi nhẹ việc của mình.  Nhạc sĩ kể chuyện chỉ "lê gót" và "la cà."  Tiếng kèn đầu bài ca chỉ làm mỉa mai chuyến đi này.  Còn mặc dù được nhiều kinh nghiệm nhưng ông cũng nhận rằng tấm hiểu biết của mình còn hạn chế: "Cha đi nhiều mà chẳng bao nhiêu."  Trí tuệ được phát triển đến lúc mình biết rằng trí tuệ của mình còn thiếu, không đủ.

Đọc lại Hồi ký của Phạm Duy thì dễ xem rằng thời kỳ vẻ vang, vui thích nhất trong đời ông từ khi ra khỏi nhà bắt đầu sự nghiệp lưu diễn và sáng tác của ông.  Từ khi đi theo gánh hát cải lương Charlot Miều đến khi đi theo kháng chiến.  Nhưng trong bài ca này ông nhắc "Trong lúc xuân tình vừa bừng hơi men / Cha bỗng se mình..."  Nghĩa là tình hình của dân và nước mình đang càng tồi tệ, là "như điên" - "Tiếng khóc la rền của Mẹ Gio Linh  / Chen tiếng vô tình của bọn yêu tinh."  Bọn yêu tinh là ai?  Chính là những kẻ "buôn súng buôn tiền, làm giầu lên trên / Thân xác dân hiền."  Các kẻ với thế lực vô hình này vô ý thức và vô nhân đạo tìm cách để làm cho cá nhân mình thêm giàu thêm mạnh mặc kệ ai thực sự phải trả giá.  Vậy kẻ thù của cũng khó phát hiện ra và ngăn cản.

Đến nửa đời Phạm Duy như có khủng hoảng cá nhân.  Phạm Duy có lý tưởng cao muốn đóng góp cho một nước tự do, độc lập, hạnh phúc, an bình, bình đằng.  Song kinh nghiệm đi nhiều nơi cho Phạm Duy biết rằng các chữ vinh quang ấy dễ bị trống rỗng hóa - các "lời cao sang" như "Nhân ái," "Nhân quần" được nhắc đến nhiều đến mức "ngập Đại Tây Dương." Nhưng dân thường dễ bị lừa bởi các ý đẹp này đã thành công cụ của "bọn yêu tinh" ở trên. 

Về riêng tình hình ở Việt Nam lúc bấy giờ thì dân hiền phải "nghe súng bom liền, nổ từ hai bên."  Đôi chữ "hai bên" rất quan trọng.  Hai bên đều có tội vì đều cầm và bắn súng.  Song không chỉ hai bên mà các thế lực hữu hình và vô hình ở đằng sau.  Đạn bom bắn vào mình xuất phát từ nguồn nào - từ "bọn lưu manh" nói chung.

Phạm Duy đi từ quê mình đang bị lâm vào chiến tranh liên miên đến "miền Tân Châu" là một xứ hiện đại và văn minh chứ?  Xứ sở thịnh vượng này cũng sản xuất đầy đủ tiềm lực tài chính để cuộc chiến này được thi hành đều và lâu dài.  Phạm Duy đến trung tâm tài chính của nước cung cấp vũ khí và lính tan phá nước mình mà không thấy dấu vết nào của cuộc chiến tranh.  Dân thường, những "gia đình gọi là văn minh" sống không biết gì về chiến tranh. Cảnh vui tươi của mùa nô-el với "trẻ đùa xôn xao" làm cho Phạm Duy thêm đau đớn về tình hình ở quê mình.  Ông bị ám ảnh chợt thấy "đôi bé ... quý gục trên mương" thành hình ảnh trên hoa đèn công viên.

Phạm Duy như mỗi người ước được "kiếp sống thanh bình, người người mưu sinh."  Mỗi người đều có ước mơ như thế thì "sao nước non mình còn nhiều điêu linh."  Ông hỏi "ai đã cố tình đẩy cuộc đua tranh"?  Tất nhiên có bình lực từ ngoài vào - từ Mỹ, Liên Xô, Trung Quốc, Nam Hàn, Đông Á, Úc, v.v.  Nhưng lực lượng quyết định là người cầm súng sẵn sàng bắn vào đồng bào mình.  Kết quả là "cháu con mình làm vật hi sinh."

Một trong những lý do nhạc và lời của Phạm Duy được xuất sắc là vì ông không bao giờ che mắt, bịt tai mình.  Ông làm công dân Việt Nam còn là công dân của thế giới nói chung, vậy muốn biết về mọi sự xây ra, mặc được biết làm mình "chỉ buồn thêm thôi."  Bài ca "Kể chuyện đi xa" có kết luận "Thế giới âm thầm, thủ phạm lâu năm."  Quả đất này bốn mươi năm sau vẫn thế.  Hiện nay Việt Nam được hòa bình nhưng "dân hiền" ở Syria, Zaire, Iraq, Myanmar, Afghanistan còn bị lâm vào chiến tranh.  Vậy Phạm Duy đặt vấn đề cho mọi người chúng ta - làm sao mà "đi tìm một niềm vui riêng" lúc mà "cũng thấy thẹn thùng vì tội gom chung."  Nhân sinh được toàn cầu hóa bắt phải liên kết với nhau.  Gần mỗi sinh hoạt của mình có ảnh hưởng cho người khác - người hàng xóm, hay người cách mình một nửa trái đất.  Nhưng dù được như thế, mỗi người cũng như bó tay vì những yếu tố có thế lực to mạnh hơn mình biết bao.  Vậy làm người có ý thức như Phạm Duy rất khó và rất buồn.  Song Phạm Duy không che mắt còn đòi chúng ta không che mắt nữa.  Ông soạn một tác phẩm phản ánh một thời xa xôi khi còn chiến tranh ở quê ông, nhưng cũng phản ánh thân phận của mọi người với lương tâm muốn có một đời sống khai hóa và nhân đạo.

14 tháng 10, 2012

Qua cơn mê (Past the Madness) - Trần Trịnh & Nhật Ngân (1972?)

1.
Một mai qua cơn mê xa cuộc đời bềnh bồng tôi lại về bên em
One day past the madness, far from a life of vicissitudes, I’ll come back to your side
Ngày gió mưa không còn nên đường dài thật dài ta mặc tình rong chơi
A day of no more wind and rain, so the road’s long, really long, we’ll no longer mess around with our love
Cùng nhau ta sẽ đi, sẽ thăm bao nơi xưa, vui một thuở lênh đênh
Together we’ll go, we’ll visit those old familiar places, happy in drifting time
Ta sẽ thăm từng người, sẽ đi thăm từng đường, sẽ vô thăm từng nhà.
We’ll visit each person, and visit each street, walk into each house.

Điệp khúc
Tình người sau cơn mê vẫn xanh dù bao tháng năm đau thương dập vùi
One’s love after the madness is still fresh, though months and years of pain have mistreated us
Trường quen vắng ta mai ta lại về cùng theo lũ em học hành như xưa
Our familiar school has been without us, tomorrow, we’ll go back with the school kids like long ago

2.
Rồi đây qua cơn mê sông cạn lại thành giòng suối về ngọt quê hương
Now here past the madness, the dried out river has become a current, a clear stream flowing back sweetening our homeland
Ngày đó tay em dài vun cuộc tình thật đầy mơ toàn truyện trên mây.
That day your long arms hoard up a love full of dreams, all stories from up in the clouds
Còn tôi như cánh chim sẽ bay đi muôn phương mang về mầm xanh tươi
And I’m like a bird on the wing flying in ten thousand directions bringing back fresh green sprouts
Khi lá hoa thật nhiều trái yêu thương đầy cành hái đem cho mọi người
When leaves and flowers are plentiful beloved fruit filling the branches, I’ll pick it, and bring them to everyone.


Mới đây tôi nhận được tin buồn là nhạc sĩ Trần Trịnh, một người đóng góp rất nhiều cho nền tân nhạc Việt Nam qua đời.  Ông sinh ra ngày 9 tháng 1 năm 1936 ở Thái Lan (ở Bangkok?) và chết 10 tháng 10 ở Irvine, California.  Tên thật của ông là Trần Văn Lương.


nguồn ảnh: blog của Trần Đăng Chí

Tôi rất may là được gặp Trần Trịnh một lần cách đây 9 năm.  Ông vốn có một trình độ nhạc rất cao - theo ông là nhờ điều kiện học nhạc với giáo sư dòng Lasalle của đạo Thiên Chúa là huynh sư / tiến sĩ Rémi Trịnh Văn Phước.  Trần Trịnh lấy họ người giáo sư ấy để thành bút hiệu của mình.  Trần Trịnh là nhạc sĩ sáng tác, và cũng chơi đàn và chỉ huy dàn nhạc vũ trường và phối khí nhạc đĩa.  Hợp tác với nhạc sĩ Nhật Ngân (cũng mới qua đầu năm này) ông soạn nhiều bài ca rất hay thời chiến tranh với tên chung là Trịnh Lâm Ngân.

Tôi có duyên với nhạc của Trần Trịnh và Nhật Ngân từ rất sớm.  Tôi thực sự bắt đầu nghiên cứu về nhạc Việt trước khi tôi nhận rằng tôi sẽ muốn nghiên cứu nó nhờ nghe một tác phẩm của hai ông này.  Câu chuyện này bắt đầu tháng 9 năm 1985 lúc tôi đi ăn cơm với bạn bè ở một nhà hàng Việt trên phố Penn Avenue thành phố Pittsburgh (đêm đó tôi đã ăn món canh chua cay).  Thuở ấy tôi đang học về món sáng tác và lý luân âm nhạc.  Khi đang ăn tôi đã nghe và chú ý đến âm thanh này:



Tôi đã xin người tiếp viên cho tôi xem bìa băng cát xét để chép lại chủ đề.  Vài tuần sau tôi đã đến "chợ" Việt duy nhất ở thành phố Pittsburgh và được mua băng ấy ở đó.  Hồi đó tôi chưa có ý học tiếng Việt vậy không được biết gì về băng này, kể cả không biết chủ đề Nhạc Khiêu Vũ - Nhạc Hòa Tấu là như thế nào.

Thuở ấy tôi cũng đang học món dân tộc nhạc học và cũng đã được giới thiệu nhạc thế giới trên một chương trình làn sóng đài phát thanh nhỏ.  Vậy tôi cũng có ý thức về nhạc truyền thống của nhiều dân tộc.  Nhưng nhạc lai (hybrid music) đã còn rất xa lạ đối với tôi.  Nghe giai điệu của "Qua cơn mê" tôi biết đây không phải là kiểu viết giai điệu của phương Tây, nhưng cách phối khí (của nhạc sĩ Trung Nghĩa) trong băng này rất gây ấn tượng với tôi.  Nếu so sánh thì cách phối khí ở đây khá giống bài Hawaii Five-O của ban nhạc Vanh Tuya.

Phải đợi gần 10 năm sau đến khi mới bắt đầu hiểu biết về ca khúc này.  Mặc dù được phối khí theo nhịp rock ở trên, thực sự "Qua cơn mê" là một bài ca boléro.  Ca sĩ Băng Châu là người giới thiệu bài hát này trên đĩa (chắc là năm 1973).



Chữ "cơn mê" ở đây rất khó dịch sang tiếng Anh.  "Mê" có thể có hai nghĩa ở đây - 1) "mất hẳn khả năng nhận biết và đáp ứng với cái kích thích" và 2) "ham thích tới mức như bị cuốn hút hoàn toàn vào" (theo Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng 2007).  Còn chữ "cơn" thì làm cho ý nghĩa này thành sâu hơn.  Ở đây cơn có nghĩa là "khoảng thời gian xảy ra điều không may, thường là tương đối ngắn" (Từ điển tiếng Việt).

Nhật Ngân cho tôi biết là theo ông thì cơn mê có ý nghĩa "không sản xuất" hay "không tỉnh táo."  Vậy tôi từng nghĩ đến những chữ dịch như mania (một ước mơ quá đáng và khó điều khiển) hay distraction (sự làm xao lãng).  Cuối cùng tôi quyết định dịch cơn mê thành madness.  Tất nhiên madness có nghĩa đơn giản là sự điên cuồng.  Nhưng madness cũng có ý nghĩa extreme folly (dại dột hết mức), enthusiasm (sự nhiệt tình) và ecstasy (tình trạng đê mê).

Tôi nghĩ rằng "cơn mê" là một từ để nói đến cuộc chiến tranh.  Việt Nam trải qua một cơn mê chung.  Gọi là chiến tranh Việt Mỹ hay kháng chiến chống Mỹ thì chưa đủ.  Chữ Vietnam War / chiến tranh Việt Nam đúng hơn vì chiến tranh này xảy ra ở Việt Nam, người Việt Nam bị thiết hại nhiều nhất, và chiến tranh này xảy ra vì người Việt Nam (hay những người có tham vọng lãnh đạo) không kiếm được cách nào để chịu đựng sống chung với nhau một cách khoan dung.  Một xã hội hoàn toàn "tỉnh táo" sẽ tìm cách để chung sống hòa bình. Còn những năm chiến tranh có được coi như một giai đoạn "phát triển" nhiều không?  Là một cơn mê thật.

Trần Trịnh và Nhật Ngân cũng đã soạn ca khúc phản chiến nhất thời chiến tranh ấy ày là "Xuân nay con không về."  Đi chiến trường làm sao con cho mẹ được hạnh phúc?  Với "Qua cơn mê" thì có hai người tình hẹn nhau quay về một đời sống bình thường.  Một đời sống như trước "cơn mê" ấy.  Ca khúc này được viết thuở Hiệp định Paris - cuối 1972 hay đầu 1973.  Trong thời gian này nhiều người miền Nam đang mong đến hoà bình.  Mỹ rút quân, trong hiệp định này hai chế độ đồng ý không đánh nhau cùng thời mà họ đồng ý tìm một cách thống nhất nước bằng những biện pháp hoà bình.  Nhiều người tự hy vọng - có phải cơn mê đã qua?

nguồn: Trần Trịnh & Nhật Ngân, "Qua cơn mê" in lại trong Hát cho tình yêu, tuyển tập 11 ([CA?]: Nhạc hay của bạn, 1980s?).

Trên bản nhạc chữ "qua" được viết màu trắng, nhưng "cơn mê" thì dược màu đen.  Qua cơn mê là mong ước đến một tương lai với "mầm xanh tươi," "lá hoa thật nhiều trái" - một tương lai đẹp ấm no.  Một đời sống bị chấn động - "bềnh bồng," "đau thương dập vùi" - được thành an lành.  Còn nữa mọi người được quên các điều bất bình ấy và trở về tuổi ấu thơ - đi "theo lũ học hành như xưa."  Qua cơn mê qua có nghĩa là mọi người được giải thoát.  Đây là một ca khúc rất xứng đáng cho một đất nước thống nhất và hòa bình.

Dù tôi thấy bối cảnh chiến tranh ở đằng sau bài ca này, "Qua cơn mê" không có hình ảnh nào của chiến tranh.  Không có lính, không có súng, và cũng không có hình ảnh nào của mâu thuẫn người với người.  Mọi người "thành giòng suối về ngọt quê hương."  Chắc vì hai ông Trần Trịnh và Nhật Ngân viết rất hay và đầy ẩn dụ thì năm 2011 bài ca được cấp phép hát ở Việt Nam.


Dưới đây có nghệ sĩ Hương Lan hát "Qua cơn mê" trong một chương trình thiện gây quỹ ủng hộ dân Nhật bị thiết hại trong động đất năm 2011.  Bài ca rất thích hợp với chương trình này.  Cám ơn Trần Trịnh và Nhật Ngân.

12 tháng 9, 2010

Một cành mai (A Plum Branch) - Phạm Duy + Phạm Thiên Thư (1971)

Em bé khóc đòi cha, như mẹ khóc đòi con.
A little one cries calling for its father, like a mother cries calling for her child.
Người chồng khóc người vợ, người yêu khóc người yêu.
Husbands cry for wives, lovers cry for lovers.
Nước mắt vẫn đầy vơi, sinh tử vẫn còn đây!
Tears are still full or dry, life and death are still here!
Đời này qua đời nọ, tử sinh vẫn còn kia
This life passes to another one, life and death are still there
U ù u! U u u u U u u! U u u

Ôi máu đã thành sông, xương người đã thành non
Oh blood has become a river, people's bones a mountain
Hận thù như trời bể, hờn căm vẫn còn nghe.
Hatred like sky and ocean, resentments still heard.
Cái chết vẫn còn kia, sao cuộc sống còn mê?
Death is still there, why does life still excite?
Đòi thù, thì oán đời đời,
Call for malice, then there's resentment forever,
Đền nhau chỉ có chút lệ thôi!
Make compensation for each other there's a few teardrops only!
U ù u! U u u u U u u! U u u

Nước mắt bỗng ngừng trôi, khi người đã nguyện dâng
Tears suddenly stop flowing when people have offered prayers
Thân mình làm đuốc hồng, cho đòng lúa trổ bông.
One's body makes a rosy torch, for young rice blossoms.
Cuộc sống chết nào đây? Đau buồn sẽ đổi thay
Has life died here? Sadness and pain change
Đem mình vào kiếp người, thoát khỏi nỗi tử sinh.
Brought us to a human existence to escape the state of life and death.
Nước mắt bỗng ngừng trôi, khi người đã nguyện dâng
Tears suddenly stop flowing when people have offered prayers
Thân mình làm đuốc hồng, cho đòng lúa trổ bông.
One's body makes a rosy torch, so young rice blossoms.

Cành mai đã rụng rơi, rơi rụng xuống cuộc đời.
The plum branch has fallen, fallen down to life.
Một cành mai rụng rời, làn hương vẫn chẳng phai
The plum branch has fallen, the fragrance still hasn't faded at all
Người không riêng của ai, nhân loại vẫn của người
A person isn't anyone's alone, humanity still belongs to a person
Đặt mình trong dòng đời, tử sinh cũng là vui.
Placing us in life's stream, life and death have their happiness.
Một cành mai, mai mãi, mãi mãi...
A plum branch, always, always
Một cành mai, mai mãi, mãi mãi
A plum branch, always, always
Mãi mãi...
Always


"Một cành mai" lạ Đạo Ca số 5 của Phạm Duy sáng tác năm 1971. Phạm Thiên Thư soạn những lời ở trên. Chắc đây là ca từ, không phải là bài thơ. Các chữ ăn khớp với cấu trúc và giai điệu của Phạm Duy, như vậy tôi nghĩ rằng phải có hai người ngồi hợp tắc với nhau. Ca khúc này được sáng tác 4 năm sau sự qua đời của Nhất Chi Mai.

Cấu trúc của bài ca là A-B-A được chia ra thành các đoạn 4 ô nhịp -

a' a''a'' a' a''a'' a' -- b' b' b' -- a'' a'' a'-kéo dài

Các đoạn a có tám hợp âm kéo dài 2 phách lên thang âm -

F g-thứ a-thứ Bb C d-thứ E A (với nốt 4 là D được lưu [suspended])

Các đoạn a' không có ca từ và chỉ có hai giọng lên thang âm song song quãng bốn tịnh hành. Các đoạn a'' thì có ca từ và giai điệu.

Các đoạn b cũng có 4 ô nhịp với các hợp âm kéo dài 2 phách như sau -

A D G A e-thứ D G A

Mô tiến hợp âm (chord progression) của đoạn a' và a'' đi lên cả 7 cung của thang âm F trưởng rồi ở lại trên cung 7 là âm dẫn E, nhưng E kéo dài 4 nhịp này là một kết (cadence) bắt đắc dĩ V-i của điệu thức A. Chuỗi hợp âm này có thể xem theo hai điệu thức khác nhau:

F trưởng: I-ii-iii-IV-V-vi-VII-iii
a thứ: VI-vii-i-II-III-iv-V-i

Nhưng cả hai điệu thức đều không được ổn định. Một vài nhận xét về tình trạng không ổn này: các thang âm đi lên từ F lên E cũng như tình trạng sisyphus - đẩy hòn đá lên đỉnh, rồi phải bắt đầu thêm từ đâu một lần nữa (và mãi mãi). Sinh tử cũng thế. Nếu đã được đi lên (từ E đến) nốt F thì là như được thoát hẳn. Với tính điệu thức trưởng này cấu trúc hòa âm đặt lên trụ F trưởng / A trưởng - hai chính xác hơn FA / AC#. Cuối bài có kết E-A với chữ "mãi," nhưng vì cách trụ hai hợp âm thì đoàn kết này cũng không ổn hặn.

Đi qua các hợp âm của thang âm cũng là thiếu những mô tiến kết thành (cadence) là một cách để rửa qua cả gam nốt. Nếu các bực của thang âm được một hợp âm thì không có âm chủ nào - không có chỗ nào để đậu.

Mô tiến hợp âm của đoạn b thì gây ra một điệu thức rõ rệt là A - là A mixolydian - A B C# D E F# G A - không có âm dẫn là G#. Mô tiến hợp âm của đoạn b là:

A mixolydian - A-D-G-A-e-D-G-A [I-IV-VII-I-v-IV-VII-I)

Có lẽ điều nổi bật nhất của đoạn này là giai điệu đi song song với chuỗi hợp âm ở trên - không có chất đối vị nào. Còn trong 8 hợp âm có tỉ lệ lớn là hợp âm trưởng.

Nói chung bài ca có tính "trưởng." Mô típ đầu của bài ca là hợp âm F trưởng (A-C-C-F / "Em bé khóc người"). Tiếp theo là hợp âm C trưởng (G-G-E-G-C / "cha, như mẹ khó đòi"). Cuối đoạn a' có mô típ E trưởng (B-E-G# / "tử sinh vẫn"). Hợp âm trưởng cũng gợi lên những cảm tưởng lạc quan, những niềm hy vọng.

Đoạn B bắt đầu với mô típ A trưởng (C#-E-E-A / "Nước mắt bỗng ngừng"). Tiếp theo là mô típ G trưởng (D-B-G-B-G / "trôi, khi người đã nguyện").

Ca từ này tất nhiên có hình ảnh "đuốc." Đuốc của Nhất Chi Mai là: "Thân mình làm đuốc hồng, cho đòng lúa trổ bông." Đuốc của Lê Văn Tám thì: "Bó đuốc sống sáng ngời / Soi đường cho Đội em tiến nhanh." Trong hai trường hợp này vai trò của đuốc làm cho nuôi dưỡng và hướng dẫn lớp trẻ đến sau - "lúa trổ bóng" và "Đội em." Tất nhiên hình ảnh của ca từ Phạm Thiên Thư tinh vị hơn và không có tính cổ vũ. Vai trò của Nhất Chi Mai là nói lên lời cho những người không có giọng nói, là nhắn nhủ cho những người có tâm lòng.

Bài ca này không thiếu những nét sầu. Tiếng khóc, nước mắt này thuộc về chiến tranh và chắc người ta cũng khóc cho sự ra đi của Nhất Chi Mai. Thi sĩ không cho người nghe đắm mình trong nỗi buồn nhưng muốn giúp chúng ta hiểu rằng tình trạng buồn đau thuộc cái gì lớn lao hơn, có ý nghĩa hơn.

"Nước mắt vẫn đầy vơi, sinh tử vẫn còn đây! / Đời này qua đời nọ, tử sinh vẫn còn kia." Phạm Thiên Thư viết về ca từ này về chiến tranh, nhưng ý ông ở đây là triết lý Phật giáo viết tắt. Thời hòa bình thì kiếp người vẫn thế. Nhưng muốn bớt đi đau khổ kiếp người thì mọi người nên sống khoan dung, đừng căm thù. "Đòi thù, thì oán đời đời, / Đền nhau chỉ có chút lệ thôi!" Ý chính của bài này là sự tha thứ. Nếu mọi người có khả năng tha thứ và "đền nhau" thì hết chiến tranh. Đây không phải là lối "oanh liệt." Song cách làm của Nhất Chi Mai là lối nhân đạo.

Đoạn cuối của bài này thì viết về cá nhân Nhất Chi Mai - một cành mai - là tưởng niệm Nhất Chi Mai: "Một cành mai rụng rời, làn hương vẫn chẳng phai / Người không riêng của ai, nhân loại vẫn của người." Nhất Chi Mai làm việc cá nhân, nhưng làm cho cái chung, cho nhân loại. Vì vậy hương hoa này không phai - sẽ thành vĩ đại.



Thái Thanh trình diễn ở trên không y hệt bản nhạc ca khúc "Một cành hoa" (có lặp lại một số từ ở đoạn B, và nhiều lần hợp âm A với nốt D được lưu thành A trưởng).

7 tháng 9, 2010

Chấp tay tôi quỳ xuống (Hands Pressed I Kneel Down) - Nhất Chi Mai (1967)

Sao người Mỹ tự thiêu?
Why did an American self-immolate?
Sao thế giới biểu tình?
Why does the world protest?
Sao Việt Nam im tiếng?
Why is Vietnam silent
Không dám nói Hòa Bình?
Dares not speak of Peace?

Tôi thấy mình hèn yếu!
I feel that I'm feeble
Tôi nghe lòng đắng cay!
I hear bitter hearts
Sống mình không thể nói
Alive we can't speak
Chết mới được ra lời!
Dying brings out the words!

Hòa Bình là có tội!
Peace is a crime
Hòa Bình là Cộng sản!
Peace is Communist!
Tôi vì lòng nhân bản,
I with a humane heart,
Mà muốn nói Hòa Bình.
Want to speak Peace.

Chấp tay tôi quỳ xuống
Hands pressed I bow down
Chịu đau đớn thân này
Endure pain in this body
Mong thoát lời thống thiết!
Want to escape words of woe!
Dừng tay lại “NGƯỜI” ơi!
Stop what you're doing People!
Dừng tay lại “NGƯỜI” ơi!
Stop what you're doing People!

Hai chục năm hơn rồi,
It's been more than twenty years already
Nhiều máu xương đã đổ,
A great deal of blood and bones have spilled
Đừng diệt chủng dân tôi!
Don't commit genocide on my people!
Đừng diệt chủng dân tôi!
Don't commit genocide on my people!
Chấp tay tôi quỳ xuống.
Hands pressed I bow down


Nhất Chi Mai [一支梅 -tức Phan Thị Mai] là thêm một người qua đời vì chiến tranh mà được một bài ca tưởng niệm. Bà tự thiêu như Lê Văn Tám, nhưng bởi vì một mục đích khác hẳn. Nhất Chi Mai là một trong những sáu đệ tử ban đầu của Dòng tu Tiếp Hiện của Thích Nhất Hạnh sáng lập. Thích Nhất Hạnh chủ trương Engaged Buddhism - Phật giáo nhập giới (入世佛教 - hình như cũng gọi là Phật giáo dấn thân) làm hoạt động vận động cho hòa bình, cho công lý xã hội.

Nhất Chi Mai được nhắc đến trong nhiều sách và bài viết của phong trào đòi hòa bình ở Mỹ. Nhất là vì bà cũng làm theo gương mẫu của Norman Morrison một người Mỹ tự thiêu ngay trước nhà Pentagon (Bộ quốc phòng Mỹ). Trong bài thơ bà viết "Sao người Mỹ tự thiêu / Sao thế giới biểu tình" - nghĩa là bà nhận cái vai trò của những người của phong trào ở Mỹ (và những người phong trào thích được nhận như thế).

Bà viết rất đúng: "Sống mình không thể nói / Chết mới được ra lời!" Chỉ có những hành động quá khích mới làm cho được "ra lời" - cho những lời nói của các người đòi hòa bình được nghe đến.

Sau đây tôi sẽ viết về bài ca "Một cành mai" của Phạm Duy và Phạm Thiên Thư, và chắc tôi sẽ viết về một số bài ca về Norman Morrison.

20 tháng 1, 2009

Phạm Thế Mỹ, 1930-2009

Bìa sau của bản nhạc tác giả xuất bản năm 1972

Thương quá Việt Nam (I love you so, Vietnam) - Phạm Thế Mỹ (1969) - Jason Gibbs dịch

1.
Em nghe gì không hỡi em con chim nó hót vang đầu hè
Do you hear anything, do you? the bird it sings echoing at the veranda
Em thấy gì không hỡi em con chim nó múa trên cành tre
Do you see anything, do you? the bird it dances on the bamboo branch

Hót đi chim, hót đi chim hót cho hồng mặt trời quê ta
Bird sing on, Bird sing on for the rosy sun of our homeland
Hót đi chim, hót đi chim hót cho đời nhọc nhằn trôi xa
Bird sing on, Bird sing on so this wearisome life flows far away

Chim trên đồng chim trên non chim tung cánh xóa tan sương mù
Birds in fields, birds on the mountains, dart far wiping away the fog
Chim trong hồn chim trong tim
Birds in my soul, birds in my heart
Ôi thương quá tiếng chim Việt Nam
Oh I love you so, singing birds of Vietnam

2.
Hoa cúc vàng trên sân anh xinh như áo mới em ngày nào
The yellow daisy in my yard is pretty like your new gown any day
Hoa nắng hồng trên quê anh xinh như má thắm em ngày xanh
The flower in rosy sunshine in my village is pretty like your red cheeks on youthful days

Nắng lên đi, nắng lên đi nắng lên hồng nụ cười quê em
Sunlight rise, sunlight rise, rise to bring a rosy glow to the smiles of your village
Nắng lên đi, nắng lên đi nắng lên hồng ruộng mạ xanh thêm
Rise sunlight, rise to bring a rosy glow to fields of ever more rice seedlings

Hoa tim người hoa yêu thương hoa thơm ngát thế gian đêm buồn
Flower in their hearts, loving flower, flower smelling sweet in the world on a sad night
Hoa trên đồi hoa trên môi
Flowers on the hills, upon your lips
Ôi thương quá cánh hoa Việt Nam
Oh I love you so, flowers of Vietnam

3.
Trăng sáng ngời trên môi hoa trăng lên tiếng hát vui đêm già
The moon shines brightly on flowery lips, the moon rises happy singing in the old night
Trăng sáng ngời trên non xa trăng xua bóng tối trong hồn ta
The moon shines upon the distant mountains, the moon drives away the shadows in our souls

Sáng lên trăng, sáng lên trăng sáng cho người tìm về bên nhau
Moon grow bright, moon grow bright, brighten so the people find a way back beside each other
Sáng lên trăng, sáng lên trăng sáng cho tình người nở đêm sâu
Moon grow bright, moon grow bright, brighten so people's love blooms in the deep night

Trăng muôn đời trăng muôn nơi trăng đem bóng mát cho muôn người
Moon of thousands of lives, of thousands of places brings fresh shade to thousands of people
Trăng thanh bình trăng yên vui
Moon of peace, moon of happiness
Ôi thương quá ánh trăng Việt Nam
Oh I love you so, moonlight of Vietnam

4.
Bao nhiêu đèn bao nhiêu hoa bao nhiêu nến thắp lên trong hồn
So many lamps, so many flower so many candles lit in their souls
Yêu quê Mẹ yêu quê Cha yêu luôn những mái tranh làng xa
Loving my mother's village, love my father's village, always love the thatched roofs of distant villages.

Thắp tim lên thắp tim lên thắp cho tình người dậy trong ta
Light up our hearts, light them so human life awakens inside us
Thắp tim lên thắp tim lên thắp cho mặt trời dậy trong ta
Light up our hearts, light them so the sun awakens inside us

Yêu thương người yêu thương ta yêu luôn những thú hoang rừng già
Love others, love ourselves love the beasts in the old forests
Yêu bạn bè như yêu ta
Love our friends as we love ourselves
Ôi thương quá trái tim Việt Nam
Oh I love you so, the Vietnamese heart.



Phim video này cũng hợp với bài ca này. Nhưng cảnh trong video trông khá "thanh niên xung phong." Hiện nay các làng xã Việt Nam vắng các thanh niên, vậy video này có vẻ hoài cổ.

Bài ca này tựa vào dân ca vùng Nghệ Tĩnh (ông Mỹ kể rằng vì đó là miền quê của Hồ Chí Minh). Viết thời một phần lớn các làng Việt đã thành chiến khu vậy bài hát là ước mộng về hòa bình. Nói chung bài hát này khá buồn - đời nhọc nhằn ở làng quê thì không thể nói là không có. Ông Mỹ tin nhiều ở trái tim Việt Nam để xóa nỗi buồn ấy. Dịch chữ "thương" là "love" như thương cũng có nghĩa là "pity."

Đăng Lan và Xuân An hát thời bấy giờ các đoạn đầu nghe buồn man mác.



Vợ chồng tôi được gặp và nói chuyện với Phạm Thế Mỹ năm 2001 ở nhà riêng của ông ở Quận Tư Sài Gòn. Ông vui tính, cởi mở, hiền và kể nhiều chuyện hay. Thời chiến tranh Việt Mỹ ông là một người cộng sản nằm vùng. Đất Việt thống nhất ông được tham gia mọi hoạt động âm nhạc ở một miền Nam giải phóng, nhưng thực ra ông không ưa chính sách văn hóa lúc bấy giờ. Tôi rất buồn biết rằng tôi sẽ không bao giờ gặp lại nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ.