Hiển thị các bài đăng có nhãn đổi mới. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn đổi mới. Hiển thị tất cả bài đăng

13 tháng 9, 2019

1 tập nhạc xuất bản lậu năm 1989

Tập nhạc này được in với mực hồng.  Mục lục như sau:

"Huế - tình yêu của tôi" -- nhạc: Trương Tuyết Mai; thơ: Thanh Bình [1985]
"Phút ban đầu" -- "tiếng hát Bảo Yến"
"Đợi chờ trong cơn mưa" -- Thế Hiển [1988]
"Tùy hứng lý qua cầu" -- Trần Tiến [không biết chính xác viết năm nào, chắc là 1987?]
"Lời tỏ tình mùa xuân" -- Thanh Tùng [cũng không biết chính xác viết năm nào, chắc là 1988?]
"Chiều hạ vàng -- "tiếng hát Bảo Yến"
"Quê hương" -- nhạc Giáp Văn Thạch, thơ: Đỗ Trung Quân [không biết chính xác viết năm nào, chắc là 1984?]
"Đất nước" -- nhạc Phạm Minh Tuấn [thơ: Tạ Hữu Yến] [1985]
"Không dám đâu" -- nhạc Diệp Minh Tuyên; thơ Ngọc Ánh [không biết chính xác viết năm nào, chắc là trước 1989]
"Em đi Chùa Hương" -- tập nhạc in sai là nhạc của Trần Văn Khê, tức là bài ca "Chùa Hương" của Trung Đức phổ thơ Nguyễn Nhược Pháp [không biết chính xác viết năm nào, chắc độ 1989?]
"Hương tình yêu" -- nhạc: Vũ Hoàng, thơ: Đỗ Trung Quân [không biết chính xác viết năm nào, chắc độ 1989?]
"Một thoáng quê hương" -- tập nhạc không in tên tác giả, Từ Huy viết chung với Thanh Tùng [1989]
"Sao em nỡ vội lấy chồng" -- Trần Tiến, thơ Hoàng Cầm [không biết chính xác năm viết, có lẽ là 1989?]
"Tình đầu" -- nhạc: Hoàng Hiệp; thơ Tôn Nữ Thanh Yên [1989]
"Hương thầm" -- nhạc Vũ Hoàng; thơ: Phan Thị Thanh Nhàn [1984]


Tập nhạc này là như "Greatest Hits" của thời Đổi mới.  Tập nhạc này in lậu nhưng nói chung các ca khúc ở trong không có vấn đề gì.  Chỉ có hai ca khúc đáng "thắc mắc" một chút là "Phút ban đầu" và "Chiều hạ vàng" là của "tiếng hát Bảo Yến."  Hai ca khúc nào được Bảo Yến biểu diễn trên băng cátxét "Bảo Yến Gò Công" năm 1985 hay 1986.  Nguyễn Bá Nghiêm là tác giả.  Không biết hai ca khúc ấy được chính thức cấp phép được phổ biến ở Việt Nam?








13 tháng 6, 2010

"Những vấn đề điện ảnh, chất lượng nghệ thuật và hiệu quả xã hội" (trích) [Problems of Cinema, Artistic Quality and Social Efficacy] - Trần Độ (1987)

* Lược ghi bài nói chuyện với những người làm công tác điện ảnh ở Hà Nội (tháng 2-1987) (* An abridgement of a conversation with those working in film in Hanoi (February 1987) - Trần Độ. Đổi mới và chính sách xã hội, văn hóa. (Nxb TPHCM, 1988), tr. 67-77.

tr. 70 - Quan niệm về chất lượng nghệ thuật còn có nhiều điều chưa đủ và có nhiều điều còn lệch lạc. Nhiều lúc, nhiều chỗ người ta nói đến chất lượng nghệ thuật hình như chỉ thiên về tư tưởng của tác phẩm; và coi đó là một tiểu chuẩn quan trọng của chất lượng. Người ta cũng lấy đó làm tính chất quan trọng nhất để xem xét đánh giá tác phẩm. Khi đặt vấn đề này cùng với vấn đề hiệu quả xã hội thì nó lại đặt ra nhiều chuyện khác. Thật ra, nội dung tư tưởng của tác phẩm nếu không có chất lượng nghệ thuật bảo đảm thì cũng không có hiệu quả xã hội mà cũng không thể gọi là chất lượng được. Thậm chí có nhiều lúc nó lại phản tác dụng.

The conception of artistic quality still has many inadequacies and distortions. On many occasions one speaks of artistic quality as if only inclined towards a work's ideology; and sees that as the important factor for quality. One also takes that as the most important characteristic to examine and appraise a work. When raising this question along with the questions of social efficacy it also brings up many other matters. In fact, the ideological subject matter of a work, if it doesn't have a guaranteed artistic quality it will also have no social efficacy and cannot be said to be of quality. In fact, often it's ineffective.

tr. 71 - Cần phải quan niệm một cách rõ rệt rằng: chất lượng của một tác phẩm phải có cả chất lượng tư tưởng và chất lượng nghệ thuật, chỉ có chất lượng nghệ thuật mới đảm bảo cho chất lượng tư tưởng. Chất lượng nghệ thuật và chất lượng tư tưởng phải trong một thể thống nhất mà những người sáng tác phải hết sức quan tâm đến chất lượng nghệ thuật.

We must conceive of this clearly: the quality of a work must have both ideological quality and artistic quality, only when there's artistic quality can you guarantee the ideological quality. Artistic quality and ideological quality must be united and creators must pay attention to artistic quality with all their strength.


Chưa đủ và lệch lạc. Trần Độ nói thế về tình trạng đánh giá sinh hoạt văn nghệ theo tư tưởng của các tác phẩm và sự coi nhẹ vai trò của "chất lượng văn nghệ."

Chất lượng văn nghệ là một khái niệm rất khó định nghĩa. Đã có bao nhiêu nhà triết lý, người chuyên môn về thẩm mỹ học vắt óc để giải quyết vấn đề này - Khổng Tử, Plato, Aristotle, Kant, Hegel, Dewey, Nietzsche, Lenin, Mao Trạch Đông, v.v. Rút cuộc thì cái khái niệm chất lượng thuộc về các xã hội nói chung và những cơ sở và con người cai trị các xã hội nói riêng. Nếu hiểu rõ về tư tưởng học thì phải kết luận như thế.

Trần Độ vẫn muốn các tác phẩm nghệ thuật có chất lượng tư tưởng cao. Tư tưởng nào? Tư tưởng xã hội chủ nghĩa - sự công bằng trong xã hội? một nền kinh tế được công động hóa? Hay tư tưởng chủ nghĩa dân tộc? Chất lượng tư tưởng như chất lượng nghệ thuật cũng khá mịt mù. Ước mà có những tài liệu giải thích cụ thể hơn và chính xác hơn.

Trong cuộc nói chuyện này thì mục đích của Trần Độ là chỉnh lý mối quan hệ giữa hai kiểu đánh giá chất lượng này. Trước tiên phải chủ tâm đến chất lượng nghệ thuật (dù chất lượng nghệ thuật không được định nghĩa cho rõ).

28 tháng 5, 2010

"Chính sách xã hội và vai trò con người" (Social Policy and the Human Factor) - Trần Độ (1988)

trích từ quyển Đổi mới và chính sách xã hội, văn hóa (Nxb TPHCM, 1988), tr. 27-52.

tr. 29-30 - Trước nay ta thường chia kinh tế -- xã hội thành hai khu vực: khu vực sản xuất vật chất và khu vực không sản xuất. Những ngành hoạt động trên các lĩnh vực giáo dục, văn hóa, nghệ thuật, được xếp vào khu vực "không sản xuất", nên không khỏi có người cho là "ăn hại" (!) Ở Quốc hội trước đây cũng đã nhiều lần bàn về vấn đề này. Nhưng bà mãi rồi cũng chưa đi được đến hiệu quả rõ rệt. Bởi ấn tượng cho rằng nó "không sản xuất" nên không cấp thiết, không quan trọng, có thì giờ thì bàn, không thì thôi.

Before we usually separated economics and society into two sectors: the sector of material production and unproductive sector. Activity in the areas of education, culture, the arts, were sorted into the "unproductive" sector, therefore they could not escape being called "parasitic" (!) by some people. The National Assembly has discussed this many times before. But incessant discussion never led to a clear result. Because the impression is that they're "unproductive" therefore not pressing, unimportant. If there's time then we'll discuss them, if not, that's fine too.

tr. 32 - Vai trò con người trong cách mạng và trong sản xuất. Từ lâu ta đã nói: "Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng". Đại hội IV Đảng ta nói rõ: Con người vừa là chủ thể vừa lả sản phẩm của xã hội, vừa là động lực, vừa là mục tiêu của cách mạng xã hội, tạo ra hạnh phúc thật sự cho con người. Thế nhưng trên chặng đường dài dẫn tới mục tiêu cao cả đó, chúng ta thấy có những cuộc cách mạng, hay có những giai đoạn cách mạng, ta thường chỉ coi con người như một công cụ của cách mạng, mà không nghĩ con người chính là mục tiêu của cách mạng, chính vì con người, vị hạnh phúc con người ta làm cách mạng.

The human factor in the revolution and in production. For a long time we've said: "The revolution is the cause of the masses." Our Fourth Party Congress clearly stated: People are both the subject and the product of society, are both the force and the target of social revolution, creating true happiness for people. But on the long road leading to that noble target we have seen that there have been revolutions or revolutionary periods, we often just view people as a tool of the revolution, and don't think that it's exactly the people themselves who are the target of the revolution, that it's for the people, because of people's happiness that one makes revolution.

tr. 32-3 - Khi nói: "Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng" thì cái gì ta cũng huy động thật lực, động viên thật lực. Trong khánh chiến, sự động viên đó, sự huy động đó là điều không thể tránh khỏi, nhưng vì kháng chiến kéo dài suốt 30 năm, nên ta thường quen nghĩ là phải như thế mới thể hiện được tinh thần "cách mạng là sự nghiệp của quần chúng". Nếp nghĩ này trở thành một quán tính ý thức, nên khi cách mạng chuyển sang giai đoạn mới, lấy xây dựng kinh tế, phát triển sản xuất làm nhiệm vụ trung tâm thường xuyên, thì nhiều người vẫn quen lối huy động thời chiến, động viên thời chiến, khiến cho sự huy động đó trở thành nghịch lý mà vẫn không hay biết. Vì vậy mới xuất hiện tình hình hơn chục năm qua (kể từ khi chiến tranh kết thúc) cái gì ta cũng quen đổ lên đầu nông dân, hết nghĩa vụ nọ lại nghĩa vụ kia, cái gì cũng kêu gọi ho mang lòng yêu nước ra mà làm. Làm không được, hoặc không đủ thì ta cho họ chưa "thật sự yêu nước" hoặc chưa huy động được hết long yêu nước của họ (!).

When saying: "Revolution is the cause of the masses" then we mobilized full force, we motivated full force for anything and everything. During the resistance, that motivation and that mobilization could not be escaped, but because the resistance stretched out for 30 years we often used to think that it must be that way to realize the spirit of "revolution is the cause of the masses". The habit of thinking this way has become an inertia of consciousness, so that when the revolution passes into a new period, taking the construction of the economy and productive development as its continuous, central mission, many people still know the ways of motivation and mobilization in wartime, making that mobilization become paradoxical even if they don't know it. Because of this we've seen a phenomenon appear for more than a decade (since the war ended) that we put everything on the heads of the peasants, for everything we call out to their patriotism to work. If they can't do it, or don't do enough then they "don't really love our country" or haven't yet completely mobilized their love for their country.

tr. 34 - Trở lại vấn đề: ta hay quên mục tiêu cách mạng là phục vụ quần chúng, mà chỉ thường nhớ rằng quần chúng là đồng lực để làm cách mạng. Khẩu hiệu của Đảng là "Tất cả vì chủ nghĩa xã hội! Vì hạnh phúc của nhân dân". Trong khẩu hiệu này mục tiêu cách mạng xã hội chủ nghĩa là vì hạnh phục của nhân dân được nêu lên hết sức rõ rệt. Nhưng tôi đi các nơi quan sát và kiểu tra thì thấy ấn tượng chung của nhiều người thường nặng về phía "Tất cả vì chủ nghĩa xã hội" mà nhẹ về "Vì hạnh phúc của nhân dân". Mà khi nói "Tất cả vì chủ nghĩa xã hội" thì lạ cũng như ngày xưa nói "Tất cả vì tiền tuyến, tất cả để đánh thắng", cái quán tính, ý thức ấy cứ được đem ra mà chỉ đạo hành động, mà động viên quần chúng làm mọi nhiệm vụ, mọi nghĩa vụ. Anh nào, nơi nào huy động giỏi, động viên giỏi thì được tính thành tích cao, ngược lại anh nào huy động kém thì bị xem là thiếu tinh thần xã hội chủ nghĩa, thiếu nhiệt tình xây dựng xã hội chủ nghĩa.

Returning to the problem: we often forget that the revolution's goal is serving the public and usually only remember that the people are the force for making revolution. Our Party's Slogan is "Everything for socialism! For the people's happiness." In this slogan, that the socialist revolution's goal is for people's happiness is brought up with absolutely clarity. But I've gone everywhere to observe and inspect and see that the general impression of many people tilts heavily toward "Everything for socialism" and lightly toward the "For the people's happiness" part. And when speaking of "Everything for socialism" then strangely it's like that old saying "Everything for the front, everything for victory", that inertia and consciousness is still brought out to give guidance for acting and to motivate the people to do every mission and obligation. Whoever, whereever mobilizes and motivates skillfully is judged to have made a great accomplishment, on the other hand if they mobilize poorly then they are seen as lacking socialist spirit, lacking enthusiasm for building socialism.

tr. 34-5 - Người lãnh đạo, người quản lý không hiểu rõ đặc điểm tình hình, không hiểu rằng giờ đây các quy luật kinh tế đã thay thế các quy luật trong thời kỳ chiến tranh nên cứ hô hào và giao nhiệm vụ sản xuất cho mọi người một cách mệnh lệnh như giao nhiệm vụ chiến đấu trước đay, rốt cuộc không kết quả.

Leaders and managers do not clear understand the characteristics of the situation, do not understand that economic laws have taken the place of the laws of wartime so that they continue to make appeals and assigning the mission of production to everybody using a command style like assigning a combat mission before, and in the end it's ineffective.

tr. 36-7 - Trong khi nhiều đồng chí quản lý sản xuất, quản lý xí nghiệp của ta còn chưa chú ý quan tâm tới con người, thì ở một số nước công nghiệp anh em, và nhiều nước tư bản lại rất quan tâm tới vấn đề này. Có thể nói không quá rằng, về điểm này, thế giới tư bản, chủ nghĩa tư bản đã "giác ngộ" hơn ta, họ có kiến thức và kinh nghiệm nhiều hơn ta... Tư bản quan tâm tới nhu cầu cuộc sống của người công nhân là để người công nhân an tâm, tự nguyện làm ra lợi nhuận không ngừng cho tư bản. Còn chúng ta, chúng ta quan tâm đến cuộc sống con người là vì mục đích cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa là đem lại hạnh phúc cho con người, vì con người là yếu tố quan trọng nhất của sản xuất.

While many comrades who manage production and our enterprises still don't pay attention to people, a few of our brother industrial nations and many capitalist nations have paid a good deal of attention to the problem. It may not be an exaggeration to say that in this situation, the capitalist world, capitalism has "awakened" more than we have, they have more knowledge and experience than us... Capitalism pays attention to the living requirements of workers, lets them have peace of mind so they'll voluntarily make profits for the capitalism. Yet we, we who pay attention the people's life because of goal of socialist revolution is to bring happiness to the people, because the people are the most important factor in production.

tr. 37 - Do không nhận thức được đầy đủ và đúng đắn vai trò của con người trong sản xuất, trong xây dựng kinh tế, nên nhiều khi lập kế hoạch sản xuất, hoặc lên quy hoạch xây dựng một vùng kinh tế mới nào đó ta thường quên tính đến yếu tố con người với những nhu cầu của nó, ta thường để thiếu những công trình phục vụ con người. Ở các vùng cao su hẻo lánh, khi ta vận động nhân dân tới đây lập nghiệp, bà con thường hỏi lúc ốm đau thì chữa bệnh ở đâu? Hàng tháng có được xem phim không?

Because we don't correctly or adequately recognize the human factor in production, in building the economy, then often when setting up a production plan or proposing a project to build some new economic zone we often forget about the human factor and its requirements, we often permit a lack of projects to serve the people. In remote rubber regions, when we campaign for the people to come here to make their fortune, these kinsmen often ask when they get sick, where can they get cured? Can they see a movie every month?

p. 38-9 - Đi kèm với nhu cầu ăn, con người còn không biết bao nhiêu là nhu cầu khác không thuộc lĩnh vực vật chất. Chẳng hạn nhu cầu tự nâng cao năng lực và tự hoàn thiện nhân cách của mình theo hướng chân, thiện, mỹ, mà theo tôi nó đặc trưng nhất cho bản chất người. Thế nên, nhiểu nhu cầu con người là phải hiểu ở cả hai mặt vật chất và không vật chất, hay vật chất và văn hóa--tinh thần.

Along with the requirement to eat, people have so many other requirements belong to the material realm. For example, the requirement to raise one's own capabilities and perfect their personalities toward truth, good and beauty, which in my opinion is most characteristic of the human essence. Therefore, many requirements for people must be understood in the two aspects of the material and the non-material, or as the material and the cultural / spiritual.

p. 40-1 - Bên cạnh hành tỷ nhu cầu, hàng tỷ mối quan hệ, con người lại còn có hàng tỷ tâm trạng, nỗi niềm, mà không nghiên cứu kỹ, không hiểu thấu đáo, chúng ta cũng không thể có chính sách tốt đối với con người, không động viên được tính tích cực xã hội của con người và không quản lý con người tốt được. Khác với loài vật, con người có một thế giới tâm hồn phong phú, rất đa cảm và rất nhạy cảm với chung quanh. Động một chút có thể buồn được. Động một chút có thể tủi thân, động một chút có thể bốc đồng.

Along side millions of requirements, millions of relationships, people still have millions of moods and emotions, and if we don't carefully research them, don't thoroughly understand them, we cannot have a good policy toward the people, we cannot mobilize the people's positive social spirit and cannot supervise people well. Different than the animals, people have a rich spiritual world, are very sensitive and discerning with their surroundings. Touch them a bit and they can be sad. Touch them a bit and they can pity themselves, touch them a bit and they can be rash.

p. 42 - Năm ngoái (tháng 10-1987) gặp văn nghệ sĩ, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh có nói một ý, rất thú vị. Đó là trước đây cứ làm cách mạng xong thì hết những cái "ai, nộ, ố, ái, dục" mà chỉ còn chữ "hỉ, lạc" nghĩa là làm cách mạng xong chỉ vui suốt ngày, cuộc đời cứ phơi phới đi lên, ai cũng tốt, lúc nào cũng tốt mà không còn những chuyện buồn phiền, lo lắng, phẫn nộ. Nay mới biết hóa ra không phải. Làm cách mạng xong và ngay cả tiến lên chủ nghĩa cộng sản nữa, cuộc sống con người vẫn còn những nỗi niềm. Chẳng hạn, con người vẫn phải yêu nhau. Mà đã yêu nhau thì vẫn không ít chuyện rắc rối. Huống chi ta đang ở trong chặng đường đầu thời kỳ quá độ, bên cạnh cái vui, những cái buồn bực, lo lắng, phẫn nộ còn diễn ra hàng ngày, nhiều vô kể. Nhưng chúng ta có thói quen nghĩ tới con người là nghĩ tới công cụ để sản xuất, và không hoặc ít nghĩ họ là đối tượng mà cách mạng phải làm cho họ có niềm vui, được sung sướng về tâm trạng của quần chúng, thậm chí không quan đến cả tâm trạng của những người cộng sự với mình ở trong xí nghiệp, cơ quan mà mình phụ trách.

At last year's (October 1987) meeting with performing artists, comrade General Secretary Nguyễn Văn Linh expressed an idea, a delightful one. That was before, while still finishing up the revolution it was the end of the "grief, anger, hate, love, and lust," and there was only "mirth and pleasure" meaning that after the revolution's done then there's just happiness all day, life is ever slightly more elated, everyone is good, it's fine all the time and there's no more sadness, worry, or irritation. Now we know it has not turned out that way. Completing the revolution and even advancing to communism as well, people's lives still have their ups and downs. For instance, people still must love each other. But having loved each other there are not a few complications. Let alone during the first transitional stretch of the road, alongside happiness, annoyances, worries, resentments still come to pass every day, it's endless. But we still have the habit when we think of people we think of them as a tool of production, and don't or seldom think that they are our focus, that the revolution must make them happy, we are content with the emotional state of the public, even though we pay no attention to the emotional state of those who collaborate with us in our enterprises and organizations for which we are responsible.

p. 50 - Cho nên, ý thức văn hóa là ý thức về đời sống tinh thần của một dân tộc, ý thức về những giá trị văn hóa của một dân tộc, chứ không phải sự quan tâm hay không quan tâm đến một vai hoạt động văn hóa cụ thể.

Therefore, cultural consciousness is consciousness of the spiritual life of a people, consciousness of a people's cultural values, it's not attention or inattention toward a few concrete cultural activities.

p. 51 - Trước đay chúng ta quan niệm bản chất văn nghệ là trò vui, và chức năng của nó là cổ động cho các nhiệm vụ khác. Ví dụ, xã hội có nhiệm vụ tuyển quân, có nhiệm vụ đóng thuế, thu nợ... Nghĩa là quan niệm rằng bản thân văn nghệ không có nhiệm vụ của riêng nó và nó chỉ là một phương tiện để phục vụ các phục vụ khác.

Giờ đây, chúng ta quan niệm văn nghệ có nhiệm vụ chính trị cao cả của bản thân nó là xây dựng tâm hồn, tình cảm và tư tưởng con người. Nghĩa là nó trực tiếp tham gia một phần rất quan trọng vào việc xây dựng con người mới. Đây là cái "thần" của văn nghệ mà không một hoạt động nào hay hình thức, ý thức nào có thể thay thế được. Cái "thần" này tạo nên tính cách, hình thành nhân cách, tạo nên sự hoàn thiện nhân cách. Bây giờ thì ta phải có một nền văn nghệ đủ sức mạnh làm được việc này. Và phải giao cho văn nghệ những nhiệm vụ như vậy chứ không phải chỉ là những nhiệm vụ lặt vặt hàng ngày. Đây là một nhiệm vụ hết sức nặng nề, vì thực ra trong cuộc sống không ai là không chịu tác động của văn nghệ, của các tác phẩm văn nghệ mà hình thành nhân cách.

Before we held the opinion that in substance the performing arts were a game, and that their function was to agitate for other missions. For instance, when society had the duty to recruit for the army, to pay tasks, to collect debts... That means that this opinion held that the performing arts did not have their own duty and were a means of serving other services.

Nowadays, we have the opinion that the performing arts have their own intrinsic elevated duty that is to construct the souls, affections and ideology of people. That means that they directly participate in an important way in the construction of new people. This is the "spirit" of the performing arts and not any activity, form, or consciousness can substitute for it. This "spirit" creates the character, forms the personality, creates the realization of the personality. Now we must have performing arts with enough strength to do this. We must assign the performing arts duties like this, not just the everyday sundry duties. This is an extremely serious duty, because it's a fact that in life nobody can resist the effects of the performing arts, of the artistic works that form personality.


Lời viết này của Trần Độ là trăm phần trăm Mác-Lê. Những ý này cũng thấm nhuần quan niệm của cựu Tổng Thư Ký Gorbachev.

Gorbachev's worldview for the first few years of his rule was not, at root, a liberal one. The Soviet people, he believed, had made a 'socialist choice' in 1917 and was fundamentally unified, collectivist, and committed to socialism. So why, then, was the system not working? Gorbachev concluded that the problem lay in the fact that the masses' innate creativity was being stifled. Deploying rhetoric that was one part young Marx and one part almost liberal idealism, he explained that bureaucrats and the 'authoritarian bureaucratic system' 'suppress the initiative of the people, alienate them in all spheres of vital activity and belittle the dignity of the individual.' The solution to this problem lay in a new form of 'democracy' that involved open discussion but not Western-style pluralism. This 'democracy' would change people's psychology, motivating them to become enthusiastic workers and citizens, or 'activating the human factor'... Initially--like Khrushchev before him--Gorbachev had hope that the party would lead society towards reform, but he rapidly lost faith in it, as party officials resisted his measures. (David Priestland, The Red Flag (New York: Grove Press, 2009), pp. 536-7).

[Quan điểm Gorbachev trong những năm ban đầu cai trị của ông vốn không phải rộng rãi. Nhân dân Liên Xô, ông tưởng, có làm "sự lựa chọn xã hội chủ nghĩa" năm 1917 và được tính thống nhất, tập thể căn bản và cam kết theo xã hội chủ nghĩa. Vậy tại sao chế độ không tiến triển? Gorbachev kết luận rằng vấn đề nằm trong một sự thật là sức sáng tạo bẩm sinh của quần chúng bị bóp nghẹt. Sử dụng đến ngôn ngữ là một phần Mác trẻ và một phần gần như chủ nghĩa lý tưởng tự do, ông giải thích là lớp quan liệu và 'chế độ quan liệu độc đoán' 'chặn khả năng sáng kiến của dân, làm dân thấy xa lánh trong tất cả các lĩnh vực hoạt động quan trọng và coi nhẹ giá trị từng cá nhân.' Cách giải quyết vấn đề này sẽ nằm trong một hình thức 'dân chủ' mới mà đòi hỏi sự bàn luận công khai nhưng chưa phải là chủ nghĩa đa nguyên kiểu Tây phương. Kiểu "dân chủ" này sẽ thay đổi tâm lý của dân, thúc đầy họ thành những nhân viên và công dân nhiệt tình, hay sẽ 'chủ động hóa vai trò con người.' Ban đầu--như Khrushchev trước ông--Gorbachev nuôi hy vọng là Đảng sẽ làm lãnh đạo toàn xã hội tới sự cải cách, nhưng ông nhanh chóng mất tin tướng ở chúng lúc các công chức trong Đảng chống lại các biện pháp của ông.]


Chủ đề chính trong bài của Trần Độ là "vai trò con người" - trong cách mạng, trong sản xuất. Ông không đề cập đến dân chủ. Nhưng nói đến vai trò con người thì ông nghĩ đến vai trò của văn hóa văn nghệ. Ông phê bình thái độ của cơ chế nhà nước Việt Nam rất nặng đến mức mà cũng phải ca ngợi thế giới tư bản. Ông bắc bỏ "quan niệm rằng bản thân văn nghệ không có nhiệm vụ của riêng nó và nó chỉ là một phương tiện để phục vụ các phục vụ khác." Như thế là một thay đổi rất lớn. Trần Độ gần như nói là một số người trong nhà nước có bóc lột người nông dân - bắt họ làm việc một cách không công bằng. Hay gửi những người đi vùng kinh tế mới mà không tạo điều kiện an lành để sống.

Trong một bài khác thì Trần Độ viết đến nhiệm vụ "xây dựng tình cảm" của các văn nghệ sĩ. Về trách nhiệm cao cả của họ. Ở đây Trần Độ như muốn văn nghệ sĩ làm kỹ sư của tâm hồn - hiểu hiểu biết và thông cảm với nỗi niềm của các con người - "động một chút có thể buồn được." Hồi trước thì con người cách mạng không biết buồn. Nhưng Trần Độ vẫn thấy vai trò của nhà nước là "động viên tính tích cực xã hội của con người" và "quản lý con người tốt được." Nghĩa là không để con người được yên. Nhưng bây giờ con người được huy động để thành con người tốt, con người hoàn hảo (con người vị con người?) vì con người hoàn hảo sẽ làm việc tốt cho xã hội. Không biết con người vẫn có phải là công cụ?

11 tháng 1, 2010

Vật đổi sao rời (Stars Shift, Things Change) - Trần Tiến (2006-7?)

Bạn xích lô, em vé số, tôi đàn ca cổ.
Friend cyclo, kid lotto, I play songs of old
Ba đứa mình vò võ ven sông.
We three abandoned at the riverside
Trời vẫn xanh, mây vẫn trắng, sông Hàn nắng đổ
Sky still blue, clouds still white, Hàn river flooded in sunlight
Cuộc đời kia bên lở bên bồi.
Life out there, one side collapses, the other's firm

Rồi một hôm từ đâu đó có một con người
Then one day from around that time there was someone
Cùng bạn xưa về gánh vác non sông.
Together with old friends he shouldered the nation's burden
Rồi một hôm từ đâu đó có một cây cầu.
Then one day from around that time there was a bridge
Xóa bóng tối nối đôi bờ buồn vui.
Wiping away night's shade, connecting the shores of sadness and happiness.

Bạn xích lô, em vé số, tôi đàn ca cổ.
Friend cyclo, kid lotto, I play play songs of old
Ba đứa giờ có chốn nương thần.
We three now have a shelter
Trời vẫn xanh, mây vẫn trắng, sông Hàn nắng đổ.
Sky still blue, clouds still white, Hàn river flooded in sunlight
Cuộc đời kia sương khổ có một ngày
Life over there, happiness and trouble have their day

Rồi một hôm từ đâu đó có một con người
Then one day from around that time there was someone
Cùng bạn xưa về gánh vác non sông.
Together with old friends he shouldered the nation's burden
Rồi một hôm từ đâu đó có một cây cầu.
Then one day from around that time there was a bridge
Xóa bóng tối nối đôi bờ buồn vui.
Wiping away the night shades, connecting the shores of sadness and happiness

Bạn xích lô, em vé số, tôi đàn ca cổ.
Friend cyclo, kid lotto, I play play songs of old
Ba đứa ngồi cạn chén ven sông.
We three sit and empty a cup by the river
Trời vẫn xanh, mây vẫn trắng, ba người im lặng.
Sky still blue, clouds still white, the three of us silent
Nhìn trời cao, vật đổi sao rời.
Watching the vast sky, stars shift, things change.




Giai điệu ca khúc này rất hay, và phận đệm của Thanh Phương càng hay. Phong cách hát của Trần Thu Hà rất hợp với chất dân gian của bài ca này. Ca từ thì phức tạp--mà không phải vì khó hiểu. Theo tôi biết thì ca khúc này được viết về thành phố Đà Nẵng. "Người" trong ca khúc này là thị trưởng Đà Nẵng - Nguyễn Bá Thanh. Thính giả nghe ca khúc này không cần biết điều đó.

Nội dung ca khúc là công cuộc đổi mới -- công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Ba nhân vật chính trong ca khúc là những kẻ lỗi thời cuộc, bà kẻ bụi đời. Một thành phố hiện đại sẽ không còn những chú lái xích lô, sẽ cho các đứa trẻ đi học không cho đi lang thang bán vé số. Và một nhạc công phải có giấy hành nghệ, phải thuộc đoàn ca múa của thành phố.

Ba kẻ dừng lại nhưng mọi sự ở ngoài đời đang thay đổi -- vật đổi sao rời. Ba kẻ cũng lẻ loi, không có chỗ đứng trong xã hội, chỉ nhìn từ ngoài. Cảnh ở ngoài thì đẹp, nên thơ và bao la: "Trời vẫn xanh, mây vẫn trắng, sông Hàn nắng đổ."

Bài này cũng đầy những hình ảnh đối lập: lở/bồi, buồn/vui, sương/khổ - có tính tự nhiên nhưng cũng có tính éo le. Nhưng lúc điệp khúc đến thì mọi sự được ổn định: "Rồi một hôm từ đâu đó có một con người." Xuất hiện "từ đâu đó" có ý nghĩa là như có phép mầu. Các từ "gánh vác non sông" nghe hơi ca ngợi tổ quốc. Nhờ phép mầu ấy "Ba đứa giờ có chốn nương thần." Nhưng cả xã hội cũng được tiến lên. Cũng "từ đâu đó" "có một cây cầu." Không biết có phải cầu này (Cầu Đà Nẵng):



Hay cầu này (Cầu Thuận Phước):


Rút cuộc ba người bạn "ngồi cạn chén ... im lặng." Ba người được hưởng các việc tốt đẹp của cuộc hiện đại hóa, công nghiệp hóa nhưng vẫn không tham gia, vẫn không có chỗ đứng. Có lẽ họ là một nét truyền thống được giữ và bảo trợ trong một viên bảo tàng?

Tôi không theo dõi chính trị ở Việt Nam cho lắm, vậy tôi không biết nhiều về ông Nguyễn Bá Thanh nhưng tôi nghe nói ông cũng thành công nhiều, cũng là một người xứng đáng được ca ngợi. Một thời các người gương mẫu là những người lính, những người mẹ hy sinh con, những người sản xuất năm tấn. Có lẽ Nguyễn Bá Thanh là kiểu gương mẫu của thời nay?

30 tháng 11, 2009

Thượng đế buồn (God's sad) - Trần Tiến (1992)

Trời sinh voi, trời không sinh cỏ.
Heaven gave birth to elephants, it didn't give birth to grass.
Thượng đế nghèo, thượng đế bỏ đi.
God's poor, he up and left.
Trời sinh voi, trời không còn cỏ
Heaven gave birth to elephants, it has no more grass.
Trái đất nghèo bồng bế đàn con
The planet's poor, carrying around a bunch of kids.
Ố hô, trái đất nghèo
Oh ho, the planet's sad.
Ố hô, thượng đế nghèo
Oh ho, God's poor.

Và như thế, người không manh áo, hàng trăm triệu người
And like that, people have not a scrap of clothing for hundreds of millions.
Và như thế, trẻ em đang đói, hàng trăm triệu người
And like that, young ones are hungry, hundreds of millions.
Và như thế trái đất này sẽ còn ai.
And like that, who'll be left on earth?
Còn ai nữa, để dự đám cưới hàng trăm triệu vợ chồng
Who'll be left to go to the weddings of hundreds of millions.
Còn ai nữa, để nghe tôi hát bài ca ngợi loài người
Who'll be left to listen to me sing songs praising mankind.
Loài người đang đói.
Mankind's hungry.
Loài người chém giết, loài người đang chết.
Mankind's annihilating, mankind's dying.
Thượng đế buồn, thượng đế bỏ đi
God's sad, God up and left.

Tình cho không, tình yêu vui nhỉ.
Love for free, love's fun, right?
Đứa bé nghèo ngồi mút bàn tay
A poor little one sits sucking his hand.
Tình chi không, tình yêu vui nhỉ
What love is free, love's fun, right?
Hạnh phúc nghèo hạnh phúc bỏ đi
Poor happiness, happiness up and left.

Và như thế, người không manh áo, hàng trăm triệu người
And like that, people have not a scrap of clothing for hundreds of millions.
Và như thế, trẻ em đang đói, hàng trăm triệu người
And like that, young ones are hungry, hundreds of millions.
Và như thế trái đất này sẽ còn ai.
And like that, who'll be left on earth?
Còn ai nữa, để dự đám cưới hàng trăm triệu vợ chồng
Who'll be left to go to the weddings of hundreds of millions.
Còn ai nữa, để nghe tôi hát bài ca ngợi loài người
Who'll be left to listen to me sing songs praising mankind.
Loài người đang đói.
Mankind's hungry.
Loài người chém giết, loài người đang chết.
Mankind's annihilating, mankind's dying,
Thượng đế buồn, thượng đế bỏ đi
God's sad, God up and left.

Ca khúc viết cho phong trào kế hoạch hóa gia đình không nghe oai lắm, phải không? Nhưng Trần Tiến có viết 3 ca khúc về chủ đề này - cả ba đều thứ vị là "Cô bé vô tư," "Sao em nỡ vội lấy chồng" và "Thượng đế buồn." Các bài ấy đều hay vì không có chất cổ vũ, đấu tranh. Các bài nhằm thay đổi ý thức của người nghe qua những câu chuyện nhỏ dễ đến với trí tưởng của những người bình thường.

Năm 1992 Việt Nam có lên đường đổi mới nhưng chưa được xã hội hóa nhiều. Tôi nghĩ rằng ca khúc này chưa được thu trên băng đĩa nào của thị trường âm nhạc. Nếu có được nghe bài hát này thì chắc chỉ có thể nghe qua Đài tiếng nói Việt Nam.

Một điều rất hay của bài hát này là hình như ca khúc này được viết theo quan niệm của một người đàn hát ở đám cưới - nghĩa là lúc mà cặp vợ chồng mới nghĩ kỹ đến tương lai của mình. Và cái hạnh phúc nghèo riêng cũng được coi như hạnh phục nghèo chung. Dù là hạnh phúc nghèo thì cũng được viết theo một cách hóm hỉnh với voi đói và cỏ không đầy đủ. Nhưng thượng đế bỏ đi? Có nghĩa là mọi người đều phải tự lo cho mình, là không còn bao cấp?

Mạnh Hùng hát "Thượng đế buồn" theo kiểu nhạc swing.

16 tháng 11, 2009

Nghị quyết 05 về Văn hoá Văn nghệ ngày 28.11.1987 của Đảng cộng sản Việt Nam (trích)

Jason Gibbs dịch


Trong hoàn cảnh mới, có nhiều thuận lợi nhưng cũng có nhiều khó khăn, thử thách, hoạt động văn hóa, văn nghệ mười hai năm qua đã thu được nhiều thành tựu và những kinh nghiệm quý, đồng thời cũng bộc lộ không ít nhược điểm, khuyết điểm.

In our new circumstances having many advantages but also many difficulties and trials, the cultural and artistic activity of the past twelve years has recorded many achievements and valuable experiences, yet at the same time has revealed not a few shortcomings and defects.

Chúng ta đã nhanh chóng xóa bỏ các tổ chức, thể chế phản động của chế độ cũ trong lĩnh vực văn hóa, văn nghệ, đấu tranh chống âm mưu và hành động phá hoại của địch, chống những quan điểm, khuynh hướng, tàn dư của văn hóa, văn nghệ phản động và đồi trụy, xây dựng và phát triển rộng khắp nền văn hóa, văn nghệ cách mạng thảo đường lối, quan điểm của Đảng.

We promptly eradicated the reactionary organizations and institutions of the old regime in the realm of culture and the arts, have opposed schemes and acts of sabotage by the enemy, opposed the outlooks, orientations and vestiges of reactionary and licentious culture and arts, and have constructed and developed everywhere revolutionary culture and arts devoted to the line and outlook of the Party.

Chúng ta đã triển khai một cách đồng bộ và cân đối hơn công tác văn hóa, văn nghệ (cả chuyên nghiệp và nghiệp dư, cả ở Trung ương và địa phương), từng bước mở rộng, đa dạng hóa các hoạt động, đáp ứng một phần nhu cầu văn hóa, văn nghệ ngày càng cao và phong phú của các tầng lớp nhân dân, các lứa tuổi. Đã xuất hiện một số tác phẩm văn học, nghệ thuật có chất lượng tốt, đề cập một cách chân thật và mạnh dạn những vấn đề nóng bỏng của cuộc sống hiện nay, thu hút được sự chú ý của dân chúng.

We have broadened in a more coordinated and balanced way cultural and artistic work (both professional and amateur, both from the Center and regionally), each step opening wider, and diversified these activities responding to the ever higher cultural and artistic requirements of every strata of society and of every age group. A number of literary and artistic works have appeared that are of good quality, that deal in a truthful and daring manner with the burning issues of life today and have attracted the attention of the masses.

...

Chúng ta chưa thể bằng lòng với những việc đã làm được. Với thái độ nhìn thẳng vào sự thật, cần nhận rõ chất lượng và hiệu quả các hoạt động văn hóa, văn nghệ nói chung còn thấp, tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị còn ít, tiềm năng sáng tạo chưa được phát huy đầy đủ, bệnh phô trương hình thức, công thức, sơ lược còn nặng. Nhiều hiện tượng tiêu cực như chạy theo tiền và tình trạng hỗn loạn kéo dài về dùng băng ghi hình có nội dung xấu chưa được ngăn chập kịp thời. Cuộc đấu tranh chống sự xâm nhập của văn hóa phản động, đồi trụy chưa tốt. Những thành tựu và những thiếu sót nói trên gắn liền với những ưu điểm và khuyết điểm trong công tác lãnh đạo, công tác quản lý, công tác xây dựng đội ngũ và cả những nhận thức lý luận trong điều kiện mới.

We cannot yet be satisfied with the deeds we have done. With an attitude of looking directly at the truth, we must clearly acknowledge that the quality and results of cultural and artistic activity are generally still poor, literary and artistic works of value are few, creative potential hasn't been fully brought into play, and the disease of the cursory flaunting of formulas, formalism is still severe. Many negative phenomena like running after money and the persistence of the chaotic situation of using videotapes have bad subject matter haven't been prevented in a timely way. The fight against the invasion of reactionary and licentious culture isn't good yet. The achievements and deficiencies spoken of above are closely related to leadership, management, the building of ranks, and theoretical awareness in new conditions.



II.



Hiện nay, văn hóa là một bộ phận trọng yếu của cách mạng tư tưởng và văn hóa, là một động lực mạnh mẽ, đồng thời là một mục tiêu lớn trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Văn hóa và văn học, nghệ thuật có tác dụng to lớn trong việc góp phần thực hiện các nhiệm vụ cách mạng, giữ vai trò cực kỳ quan trọng trong việc xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa, có chức năng bồi dưỡng đạo đức, tình cảm và năng lực thẩm mỹ cho con người, thỏa mãn những nhu cầu văn hóa ngày càng tăng của nhân dân. Giai đoạn mới của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, đặc biệt là công cuộc đổi mới sâu sắc và toàn diện hiện nay đòi hỏi văn hóa, văn nghệ nước ta phải vươn lên đáp ứng tốt nhất yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng mới.

Today, culture is an essential part of ideological revolution and culture as a powerful force, simultaneously it's a major goal in the work of constructing socialism. Culture and literature, the arts have a sizable effect in the contribution to realization of the revolutionary mission, maintaining an extremely important role in the construction of new socialist people, they have the function of fostering morals, sentiment and aesthetic ability for people, of satisfying the ever increasing cultural requirements of the people. The new phase of socialist revolution in our country, especially the task of profound and complete renovation, requires that culture and the arts of our country must rise up to respond in the best way to the requirements of the new revolutionary mission.

Thực hiện chủ trương đổi mới của Đảng trong hoàn cảnh cách mạng khoa học, kỹ thuật đang diễn ra với quy mô và tốc độ chưa từng có trên thế giới và việc giao lưu giữa các nước và các nền văn học ngày càng mở rộng, văn hóa, văn nghệ nước ta càng phải đổi mới, đổi mới tư duy, đổi mới cách nghĩ, cách làm.

To realize the Party's position of renovation in the circumstances of the scientific and technological revolution that is proceeding on a scale and at a pace never seen before and of the exchange between countries and their literature that is ever widening, culture and the arts in our country must renovate even more, renovating our ways of thinking and working.

Với tinh thần cách mạng và khoa học, cần nhận thức rõ sự đa dạng, phức tạp và xu thế phát triển của tình hình trong thế giới ngày nay để giải quyết một cách đúng đắn các vấn đề dân tộc và quốc tế, truyền thống và hiện đại, tư tưởng và học thuật, trước mắt và lâu dài trong công tác văn hóa, văn nghệ. Chú trọng phát huy bản sắc của nền văn hóa dân tộc và xây dựng bản lĩnh của con người mới Việt Nam để có thể tiếp thu những yếu tố văn hóa tốt đẹp từ bên ngoài vào và chủ động, vững vàng trước mọi thử thách.

With a revolutionary and scientific spirit, we need to clearly acknowledge the diversity, complexity and the developing tendencies of today's world situation to correctly resolve the problems of the national and the international, the traditional and the contemporary, the ideological and the pedagogical, the immediate and the lasting in our cultural and artistic work. Attach importance to bringing into play the character of national culture and build the aptitude of new Vietnamese people so that they can acquire the finest cultural principals from outside and take the initiative and be steady in the face of all trials.

Nền văn hóa mới Việt Nam xây dựng trên cơ sở những nguyên tắc của chủ nghĩa Mác-Lênin là một nền văn hóa xã hội chủ nghĩa đậm đà bản sắc dân tộc. Nó kế thừa và phát huy những truyền thống tốt đẹp như tinh thần yêu nước, lòng nhân ái, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, đồng thời có ý thức tự bồi đắp thêm những phẩm chất đã có tiền đề trong lịch sử và đang hình thành trong quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa của nhân dân ta như ý thức dân chủ, tinh thần quốc tế và tinh thần khoa học. Cần kết hợp hài hòa và nâng cao tinh hoa văn hóa đặc sắc của các dân tộc anh em trên đất nước ta, tiếp thu có chọn lọc những thành tựu văn hoá, khoa học, kỹ thuật hiện đại của thế giới. Có như thế văn hóa xã hội chủ nghĩa Việt Nam mới phát triển rực rỡ và đóng góp xứng đáng vào nền văn hóa chung của nhân loại.

New Vietnamese culture built upon the foundation of the principles of Marxism and Leninism is a socialist culture exuberant with national color. It inherits and brings into the play the finest traditions like the spirit of patriotism, altruism, revolutionary heroism, and at the same time it is conscious of consolidating the qualities that are preconditioned in history and are taking shape in the socialist revolutionary process of our people like democratic consciousness, internationalist spirit and scientific spirit. It's necessary to coordinate the harmonization and elevation of the distinctive cultural essence of our land’s brother nationalities in our land, to selectively receive the contemporary cultural, scientific, and technological accomplishments of the world. Only in that way will Vietnamese socialist culture develop brilliantly and contribute suitably to the collective culture of humanity.

Văn học, nghệ thuật là bộ phận đặc biệt nhạy cảm của văn hóa, thể hiện khát vọng của con người về chân, thiện, mỹ có tác dụng bồi dưỡng tình cảm, tâm hồn, nhân cách, bản lĩnh của các thế hệ công dân, xây dựng môi trường đạo đức trong xã hội, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa.

Literature and the arts, an especially senstive part of culture that realize people's aspirations for truth, good and beauty, have the effect of fostering the feelings, soul, personality, and aptitude of each generation of citizens, constructs moral environment in society, construct new socialist people.



Văn học, nghệ thuật phải không ngừng nâng cao tính đảng và tính nhân dân, góp phần thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, phát huy chức năng hiểu biết, khám phá, dự báo, sáng tạo, nắm bắt nhạy bén hiện thực đang diễn biến, phát hiện và biểu dương cái mới, khẳng định những mầm non đang nảy sinh trong cuộc sống, phê phán không khoan nhượng những hiện tượng tiêu cực, bảo thủ, trì trệ, tạo nên những điển hình sống động về những con người mới trung thực, dũng cảm, năng động, sáng tạo trong chiến đấu và xây dựng, những chiến sĩ của công cuộc đổi mới, xây dựng được những tác phẩm có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao, tác động sâu sắc đến việc đổi mới nếp nghĩ, nếp sống, nâng cao giác ngộ xã hội chủ nghĩa và trình độ thẩm mỹ của nhân dân, góp phần làm cho đời sống văn hóa của nhân dân ngày càng lành mạnh và phong phú. Tiếng nói của văn nghệ hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải là tiếng nói đầy trách nhiệm, trung thực, tự do, tiếng nói của sự thật, của lương tri, của tinh thần nhân đạo cộng sản chủ nghĩa, phản ánh được nguyện vọng sâu xa của nhân dân và quyết tâm của Đảng đưa công cuộc đổi mới đến thắng lợi.

Literature and the arts must ceaselessly elevate their party character and popular character, contribute to realizing the two strategic missions of constructing and protecting the socialist Fatherland, bringing into play the function of understanding, discovering, forecasting, creating, sensitively come to grips with an unfolding reality, make known and display the new, affirm the hopes budding in live of new people who are earnest, brave, dynamic and creative in struggling and building, the warriors of renovation who can build works that have ideological value and high artistry that have a profound influence in renovating the way of thinking and living, elevate the awakening of socialism and the aesthetic level of the people, contribute to a cultural life of the people that is ever more wholesome and rich. The voice of the Vietnamese socialist-realist arts must be a voice that is responsible, sincere, and free, the voice of truth, of the conscience, of communist humanitarianism, reflecting the most profound aspirations of the people and the Party's determination to renovate toward victory.

Để văn hóa, văn nghệ có thể làm tròn được chức năng cao cả của mình, các nhà hoạt động văn học và nghệ thuật phải là những chiến sĩ của Đảng trên mặt trận văn hóa, văn nghệ, chăm lo bồi dưỡng thế giới quan Mác- Lênin và nhân sinh quan cách mạng, đề cao tinh thần trách nhiệm đối với đất nước, với nhân dân, xây dựng tinh thần hợp tác xã hội chủ nghĩa, đoàn kết với nhau chân thành, sâu sắc, tôn trọng tài năng và sự cống hiến của nhau, lên án và khắc phục những biểu hiện cơ hội, bè phái, lối sống buông thả, đi sâu vào cuộc sống, không ngừng nâng cao trình độ văn hóa và nghề nghiệp, mạnh dạn đổi mới trong tư duy và hoạt động sáng tạo.

In order for culture and the arts to be able to fulfill its lofty function, everyone active in literature and the arts must be warriors for the Party on the cultural and artistic front, devoting themselves to fostering a Marxist-Leninist worldview and revolutionary outlook in order to elevate their responsibility toward the country and the people, to build a spirit of cooperative socialism, to sincerely, profoundly unite, respect each other's talents and contributions, condemn and surmount opportunism and factionalism, loose lifestyles, go deeply into life, ceaselessly raise their cultural and professional levels, bravely renovate their thought and creative activity.

III.



Sớm ban hành các chính sách nhằm khuyến khích các tổ chức văn hóa, văn nghệ khai thác các tiềm năng về kinh tế, tài chính trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, tạo được những vốn tự có để có thêm điều kiện phát triển sự nghiệp văn hóa, văn nghệ. Tiến tới thành lập quỹ văn hóa Việt Nam theo hướng huy động mọi lực lượng, mọi khả năng cả ở trong và ngoài nước. Các tổ chức văn hóa, văn nghệ được quyền tự chủ xây dựng quỹ, vốn và sử dụng quỹ, vốn đó trong hoạt động của mình. Ngoài sự tài trợ thích đáng của Nhà nước về vật tư, kinh phí, các hội ở trung ương cũng như các hội ở địa phương có quyền lập quỹ, phát triển quỹ bằng những hoạt động nghề nghiệp, được hưởng chính sách ưu đãi về kinh tế tài chính để tự trang trải các kinh phí hoạt động, bảo đảm và cải thiện điều kiện sáng tạo và đời sống của các hội viên, góp phần tích cực vào sự nghiệp phát triển văn hóa nghệ thuật của đất nước. Các chính sách kinh tế, tài chính này phải phù hợp với từng ngành, từng loại hoạt động văn hóa, văn nghệ.

Quickly promulage policies aimed at encouraging cultural and artistic organizations to exploit economic and financial potentialities in production, doing business, providing service, create private funds in order to have more opportunities to develop the cultural and artistic mission. Advance towards establishing a Vietnamese cultural fund oriented toward mobilizing every force, every capability both here and overseas. Cultural and artistic organizations have the authority to independently build funds and capital and to use those funds and capital in their activities. In addition to appropriate financing from the Government for supplies and expenses, each central organization as well as each regional association has the authority to establish funding, to develop funding through their professional activities, get the benefit of a preferential economic and financial policy to settle their debts for their operating expenses, guarantee and ameliorate their member's creative and living conditions, contribute positively to the cultural and artistic development of the country. These economic and financial policies must conform to each branch, each cultural and artistic branch and type of activity.

Bảo đảm các điều kiện tinh thần, cố gắng tạo điều kiện thuận lợi về vật chất cho các nhà hoạt động văn học và nghệ thuật yên tâm, phấn khởi làm việc. "Cải tiến chính sách đối với người làm công tác nghệ thuật chuyên nghiệp, đãi ngộ xứng đáng lao động nghệ thuật, động viên sáng tạo khuyến khích tài năng" (Báo cáo chính trị tại Đại hội VI của Đảng).

To guarantee spiritual conditions, strive to create favorable material conditions so that those active in culture and the arts can feel at ease, have enthusiasm for their work. "Improve the policy toward people working professionally in the arts, treat artistic labor appropriately, mobilize creation and encourage talent" (Political report of the 6th Party Congress).



Tự do sáng tác là điều kiện sống còn để tạo nên giá trị đích thực trong văn hóa, văn nghệ, để phát triển tài năng. Trong lịch sử Đảng đã lãnh đạo toàn dân tộc giành được độc lập, tự do và đã mang lại quyền tự do sáng tác chân chính cho văn nghệ sĩ. Bản chất quyền tự do sáng tác của văn nghệ sĩ nằm trong sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo và được quy định bởi trách nhiệm và nghĩa vụ của mỗi người đối với Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội.

Creative freedom is the vital condition in order to produce authentic value in culture and the arts, in order to develop talent. During the history of the Party's leadership the entire nation has achieved independence and freedom and brought genuine creative freedom to artists. The essence of creative freedom for artist lies in the revolutionary cause led by the Party and is regulated by everybody's responsibility and duty toward the Fatherland and socialism.

Tác phẩm văn nghệ không vi phạm pháp luật, không phản động (chống lại dân tộc, chống lại chủ nghĩa xã hội, phá hoại hòa bình), và không đồi trụy (truyền bá tội ác, sự sa đọa, phá hoại nhân phẩm) đều có quyền được lưu hành và đặt dưới sự đánh giá, phán xét của công luận và sự phê bình. Đảng và Nhà nước khuyến khích thảo luận, tranh luận công khai để tìm ra chân lý. Cần tạo một không khí hồ hởi trong sáng tác, khêu gợi nhiều cảm hứng sáng tạo cao đẹp trong các văn nghệ sĩ.

Works of art that do not break the law, that are not reactionary (against the people, against socialism, that sabotage peace), and are not depraved (propagate criminality, debauchery, sabotage human dignity) all have permission to circulate and are placed under the evaluation and judgment of public opinion and criticism. The Party and the Government encourage open discussion and debate to seek the truth. We need to create a jovial atmosphere for creation, arouse much refined creative inspiration in each artist.

Đảng khuyến khích văn nghệ sĩ tìm tòi sáng tạo, khuyến khích và yêu cầu có những thể nghiệm mạnh bạo và rộng rãi trong sáng tạo nghệ thuật, trong việc phát triển các loại hình và thể loại nghệ thuật, các hình thức biểu hiện. Tự do sáng tác đi đôi với tự do phê bình. Người sáng tác và người phê bình phải làm chủ ngòi bút của mình, không ngừng rèn luyện bản lĩnh, nâng cao trình độ, chịu trách nhiệm trước Đảng và nhân dân về công việc của mình.

The Party encourages artists' creative exploration, encourages and demands brave and expansive experimentation in artistic creation, in the development of each type and genre of the arts, each expressive form. Creative freedom goes along with critical freedom. Creators and critics must take control of the pens, ceaselessly train their aptitudes, elevate their intellectual level, accept their responsibility before the Party and the people for the work.

Nâng cao tính lý luận, trình độ khoa học, trình độ thẩm mỹ, hiểu biết thực tế sáng tác và thực tế cuộc sống sâu sắc hơn nữa trong công tác phê bình văn học nghệ thuật. Các nhà nghiên cứu, phê bình cần lắng nghe và coi trọng dư luận của quần chúng rộng rãi. Phê bình phải khách quan, trong sáng, nghiêm túc và có tính chiến đấu cao, khắc phục thói nể nang hoặc thô bạo, lối phê bình một chiều, hời hợt, hình thức, sách vở.

Elevate the theoretical character and the scientific and aesthetic level, understanding of creative and living realities more profoundly in the criticism of literature and the arts. Researchers and critics must listen carefully to and respect the opinion of the broader public. Criticism must be objective, clear and serious and have a highly combative character, overcome lazy habits of indulgence or crudity or one-sided, superficial, formalist, or bookish ways of criticism.



Kiên quyết đấu tranh chống những tàn dư văn hóa phong kiến, thực dân, tư sản. Ngăn chặn khuynh hướng thương mại trong hoạt động văn hóa văn nghệ, đấu tranh với các loại văn nghệ dâm ô, khích động tội ác. Làm thất bại âm mưu và hoạt động của các thế lực thù địch và phản động hòng biến văn hóa, văn nghệ thành phương tiện gieo rắc tâm lý bi quan và lối sống sa đọa. Bài trừ mê tín dị đoan, hủ tục.

Firmly fight against feudal, colonial or bourgeois vestiges. Block the commercial tendency in culture and the arts, fight against all kinds of arts that are obscene or incite criminality. Foil the schemes and activities of enemy and reactionary forces intending to change culture and the arts into a means of spreading pessimism and a licentious way of life. Eliminate superstition and backward customs.

Phát triển quan hệ quốc tế về văn hóa nhằm tăng cường hiểu biết và làm phong phú lẫn nhau giữa các nền văn hóa, tạo điều kiện cho văn hóa, văn nghệ nước ta có điều kiện phát triển thuận lợi hơn. Hợp tác toàn diện về văn hóa, văn nghệ với Liên Xô, Campuchia và các nước xã hội chủ nghĩa anh em khác, mở rộng sự giao lưu văn hóa mật thiết với Ấn Độ và các nước khu vực Đông Nam Á, mở rộng sự giao lưu văn hóa với các nước đang phát triển và các nước phương Tây, làm cho nhân dân ta được tiếp xúc với nhiều nền văn hóa trên thế giới. Đẩy mạnh các hoạt động văn hóa của Việt Nam trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài, thông qua các mối quan hệ nhà nước, các tổ chức văn hóa, văn nghệ nước ta cần quan tâm hơn nữa đến sinh hoạt quốc tế, tham gia tích cực hơn vào cuộc đấu tranh bảo vệ hòa bình vì quyền lợi của dân tộc, của nhân dân lao động và cuộc sống của loài người.

Develop international cultural relationships aiming to reciprocally increase the understanding and enrichment of cultures, create conditions for the culture and arts of our country to have to develop more favorably. Collaborate comprehensively with the Soviet Union, Campuchia and our brother and sister socialist countries, open up close cultural exchanges with India and the countries of Southeast Asia, open up cultural exchanges with developing countries and Western countries, enable our people to come into contact with many of the world’s cultures. Push for Vietnamese cultural activities overseas, ratify relationships of governmental, cultural and artistic organizations of our country that should pay attention to international activity, participate positively in the fight to protect peace for the benefit of the people, for laboring peoples and mankind’s way of life.


IV.



Cải tiến phương thức lãnh đạo, quản lý văn hóa, văn nghệ phải quán triệt quan điểm của Đảng đối với trí thức xã hội chủ nghĩa và phù hợp với tính đặc thù của văn hóa, văn nghệ. "Đối với trí thức, điều quan trọng nhất là đảm bảo quyền tự do sáng tạo, đánh giá đúng năng lực và tạo điều kiện cho năng lực được sử dụng đúng và phát triển. Phá bỏ những quan niệm hẹp hòi, không thấy tầng lớp trí thức ngày nay là những người lao động xã hội chủ nghĩa, được Đảng giáo dục và lãnh đạo, ngày càng gắn bó chặt chẽ với công nhân, nông dân" (Báo cáo chính trị tại Đại hội lần thứ VI của Đảng).

Improve procedures for leadership and management that thoroughly understand the Party’s viewpoint towards socialist intellectuals and to correspond to the uniqueness of culture and the arts. “For intellectuals, the most important thing is to guarantee creative freedom, to correctly appraise aptitude and create the conditions so that aptitude is correctly utilized and developed. Destroy narrow-mindedness, those who don’t see that intellectuals today are socialist laborers who are educated and led by the Party, who are ever more tightly connected with the workers and peasants” (Political announcement of the Party’s Sixth Congress).

Nguồn: Hồi kí của Trần Độ (1955-1996), tập II, chương 3
http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=3307&rb=0102

“Nghị quyết của Bộ chính trị về văn học, nghệ thuật và văn hóa,” Tuần báo Văn nghệ, số 51-52, ngày 19.12.1987.

28 tháng 1, 2009

The Labor Market at Giảng Võ Street

Chợ lao động cầu Trung Tự năm 2003 (nguồn: Việt Báo / VNExpress)

The Labor Market at Giảng Võ Street - Phạm Tiến Duật (Jason Gibbs trans.)
Who are you, brothers, I don't dare ask
You who bring your muscles to the street, greeting, entreating
The bosses who construct houses and buildings
Yet don't where you're from or who you are.

But I know you, chunks of earth broken off from the soil
Layers of alluvium pulled up from the river
Chunks of stone broken off from mountains
Can it be the only difference is the hunger pain in your stomachs

Now's the time each village wants to become a city,
The wealth and bustle of their streets on display
You're not actually unemployed, new jobs will come to life, you'll see
Like changing an airspace could change the shapes of passing clouds

They have all thinned out by late afternoon
There's just one left, suddenly I recognize him
A paragon of patience standing with a scar
You are the last chunk broken off from the war.


Chợ lao động ở Đường Giảng Võ - Phạm Tiến Duật

Các anh là ai, tôi không dám hỏi
Các anh mang cơ bắp mình lên phố chào mời
Các ông chủ xây nhà dựng cửa
Cũng không hỏi anh từ đâu và anh là ai.

Nhưng tôi biết các anh, những mảnh vỡ của trái đất
Những tảng phù sa bứng từ sông lên
Những tảng đá vỡ ra từ núi đá
Chỉ khác chăng là trong bụng đói mèm

Ấy là lúc tất cả thôn làng đều muốn thành đô thị,
Sự phồn thực phồn hoa phố sá cứ bày ra
Không phải thất nghiệp đâu, những nghiệp mới sẽ sinh thêm nhé
Như đổi một vùng trời cũng đổi dáng mây qua

Các anh đứng đó thưa dần trong chiều muộn
Chỉ còn lại một người, tôi bỗng nhận ra anh
Đức kiên trì đứng cùng vết sẹo
Anh là mảnh vỡ cuối cùng của cuộc chiến tranh.


Bài thơ này được viết năm 1992 - một năm trước khi tôi đến Hà Nội lần đầu tiên. Vậy là Hà Nội xa xôi nhất trong trí nhớ tôi. Năm 1992 cũng có thể coi như nằm nửa đường giưa năm 1975 - cái thời kỳ Việt Nam thống nhất, thời kỳ hậu chiến Việt Mỹ -và bây giờ.

Đây là Việt Nam trên đường đổi mới dù chưa biết đổi mới sẽ đến đâu. Hiện nay vẫn chưa biết sẽ đến đâu. Và hình như vẫn còn nhiều "mảnh vỡ" dù không phải mảnh vỡ của chiến tranh. Phạm Tiến Duật vẽ một bức tranh không buồn, lại không vui lắm, nhưng hợp với thực tế.

Cách đây dăm bảy năm hai người hai người Nguyen Ba Chung và Kevin Bowen đã dịch bài thơ này trong quyển Mountain River: Vietnamese Poetry From the Wars, 1948-1993 [Con sông núi: Các bài thơ Việt Nam thời những cuộc chiến 1948-1993]. Bản dịch này không hợp với mình, vậy tôi cũng phải làm ra một bản. Còn tôi cũng đã phổ bài thơ này cho giọng ca với piano dù sẽ không bao giờ có ai hát.

Cái đoạn buồn nhất là hai giòng: "Các ông chủ xây nhà dựng cửa / Cũng không hỏi anh từ đâu và anh là ai." Đã có những người rất cần thiết một thời đã thành vô danh và không còn được coi trọng. Họ thành như một phương tiện của các chủ doanh nhân. Đó là thời đại mình, là thời đại quốc tế hoá, thời đại tư bản. Sẽ có "những nghiệp mới" để bù lại - người ta nói thế. Cứ đợi xem.


This poem reminds me of the Hanoi that I first knew. It was active, but it didn't feel so crowded or so desperate. Halfway between the war and present, Vietnam had "renovated" and had begun to open up, but was still closed off enough to feel like it was apart from the rest of the world. The poet presents a sympathetic portrait of a city eager to grow, eager to modernize. But at the threshold of this change were many people who were not well-equipped to take part in this change. Of course with the increasing affluence have come new inequalities and injustices. Phạm Tiến Duật is sensitive to all of this and wants to be optimistic about the future but cannot paint a portrait that is entirely happy. I share this melancholy view.