Hiển thị các bài đăng có nhãn Phạm Duy. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phạm Duy. Hiển thị tất cả bài đăng

12 tháng 11, 2022

Tình hoài hương (Longing For Home) - Phạm Duy (1952)

Quê hương tôi, có con sông đào xinh xắn
My homeland, it has a lovely canal
Nước tuôn trên đồng vuông vắn,
Its waters spurt upon a perfectly square rice field
Lúa thơm cho đủ hai mùa. 
Fragrant rice a plenty of two seasons.
Dân trong làng 
Folk in the village 
Trời về khuya 
As midnight returns 
vẳng tiếng lúa đê mê...
the entrancing sound of rice stalks

Quê hương tôi, có con sông đào ngây ngất,
My homeland, it has a thrilling canal
Lúc tan chợ chiều xa tắp,
When the market breaks up far over there
Bóng nâu trên đường bước dồn
Brown shadows on foot amass on the road
Lửa bếp nồng, 
A warm hearth
Vòm tre non
A vault of young bamboo
Làn khói ấm hương thôn!
Warm smoke of the village!

Ai về, về có nhớ, nhớ cô mình chăng?
Whoever is going back, when you're back will you remember me?
Tôi về, về tôi nhớ hàm răng, răng cô mình cười...
When I go back, I'll remember a row of teeth, my girl's toothy grin...
Ai về mua lấy miệng cười
Who will buy me a bit of that smile
Để riêng tôi mua lại... mảnh đời thơ ngây thơ...ơ!
So I can repurchase a bit of my innocent youth...

Quê hương ơi! Bóng đa ôm đàn em bé...
Oh my home! The banyan shadow caresses the gang of children
Nắng trưa im lìm trong lá
Noon sunlight in silence on the leaves
Những con trâu lành trên đồi
Gentle water buffalo on the hillside
Nằm mộng gì? Chờ nghe tôi thổi khúc sáo chơi vơi.
At rest of what do they dream? They wait for me play a piece on my lonesome flute.

Quê hương ơi! Tóc sương mẹ già yêu dấu
Oh my home! Grey hair of my beloved mother
Tiếng ru nỗi niềm thơ ấu
A lullaby brings back youthful emotions
Cánh tay êm tựa mái đầu
Her hands softly caressing my head
Ôi bóng hình từ bao lâu còn ghi mãi sắc mầu!
Oh that image of so long has forever engraved its color!

Tình hoài hương!
Longing for home!
Khói lam vương tâm hồn chìm xuống
Blue smoke clings to the soul as it sinks
Chiều soay hướng!
An evening's reversal!
Sống vui trong mối tình muôn đường.
Living happily in a love to every path.
Tình ngàn phương!
Love spreading all directions!
Biết yêu nhau như lòng đại dương
Knowing to love each other the ocean's heart
Người phiêu lãng!
A drifter!
Nước mắt có về miền quê lai láng
Whose tears gone back to the homeland, overflowing
Xa quê hương! Yêu quê hương!
Far from home! Loving my home!


nguồn: Phạm Duy, History In My Heart, Nguyễn Mộng Thường, editor (không nơi: [Tự xuất bản], không năm).

Ngày xưa thức khuya tôi từng nghe làn sóng của đài AM 1500 KSJX có chương trình tiếng Việt.  Cuối ngày phát thanh họ kết thức chương trình với bài ca "Tình hoài hương" do Thái Thanh hát.

Phạm Duy soạn ca khúc lúc gia đình ông dọn vào miền Nam. Không được gọi là "di cư" vì chưa có yếu tố chính trị bắt ông đi.  Nhưng ông biết là ông sẽ không còn được đi xuyên xứ Việt như thời Pháp thuộc hay như trong vùng kháng chiến.  Chính ông là "người phiêu lãng" không còn được về miền quê mình.  Năm 1954 rồi năm 1975 nhiều người Việt nữa thành người phiêu lãng xa quê hương như ông.

Năm 2005 Phạm Duy có về miền quê Việt Nam ở.  Ngày 10 tháng 3 2006 bài ca "Tình hoài hương" được cấp phép phổ biên ở nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

29 tháng 1, 2014

Phạm Duy và Pete Seeger trên truyền hình Mỹ (1966)

Tôi mới được biết đến tư liệu tuyệt vời này. Chương trình này có tên "Rainbow Quest" (Đi tìm cầu vồng) được phát thanh năm 1966 trên đài WNJU ở Newark, New Jersey rồi một năm sau được phát thanh một lần trên kênh WDNT ở thành phố New York. Phạm Duy qua đời ngày 27 tháng 1 2013, rồi Pete Seeger qua đời đúng một năm sau - ngày 27 tháng 1 2014.

Pete Seeger là nhân vật chính trong phong trào đổi mới nhạc dân gian Mỹ từ những năm 1930. Phong trào ấy lên cao điểm trong những năm 1960.

Đây là một cuộc giao lưu văn hóa đích thực.  Có dân ca Việt và Mỹ.  Có đàn tranh và đàn banjo. Steve Addiss (hiện nay là giáo sư chuyên về văn hóa Nhật Bản) và Bill Crofut (người học nghề hát dân ca với Seeger) đã đi Việt Nam để tìm hiểu về nhạc Việt.  Họ làm việc với Phạm Duy rất nhiều.  Họ đi lưu diễn trong Việt Nam và cũng thực hiện một vài đĩa hát.

Trong chương trình trên có các mục nhạc như sau:

Phạm Duy hát dân ca "Trèo lên quán Giốc."
Steve Addiss đánh bài "Lý Con Sáo" trên đàn tranh.
Phạm Duy hát dân ca "Qua cầu gió bay".
Phạm Duy, Bill Crofut và Steve Addiss hát dân ca "Hò lơ."
Phạm Duy và Steve Addiss hát bài "Người thương binh" với Bill Crofut và Pete Seeger.
Phạm Duy biểu diễn "Nhân danh".
Phạm Duy, Steve Addiss và Bill Crofut biểu diễn bài "Giọt mưa trên lá."
Phạm Duy hát dân ca Mỹ "Clementine."

Tư liệu này rất đáng quý vì tạo điều kiện gặp nghệ sĩ Phạm Duy - một người hát và đàn có sức quyến rũ.

11 tháng 5, 2013

Lập trường Phạm Duy qua một bài hát

Đăng trên BBC Tiếng Việt 11 tháng 5 2013

Kể chuyện đi xa (Telling Stories Of Travelling Afar) - Phạm Duy (1970)

1
Cha ơi! Cha ơi!
Daddy! Daddy!
Cha đã đi nhiều!
You've travelled alot!
Đi những nơi nào?
Where have you gone?
Cha biết những gì?
What have you learned?
Kể chuyện con nghe.
Tell us some stories.
Cha biết những gì?
What have you learned?
Kể chuyện con nghe.
Tell us some stories.

Con ơi! Con ơi!
My child! My child
Cha đã đi từ ruộng đồng quê ta
I've gone from the rice paddies of our land
Lê gót trên hè của nhiều kinh đô
Dragged my heels across the sidewalks of many capitals
Châu Á đông người, ở rồi ra đi
Asia, with its crowds, then off to
Âu, Mỹ xa vời, tạt về Châu Phi
Europe, America far away, dropped down to Africa
Nhưng con ơi!
But my child!
Cha đã đi nhiều mà chẳng bao nhiêu
I've travelled alot, but not really so much
Cha đã la cà mà chẳng đi xa
I've knocked around a bit, but haven't really gone far
Con muốn nghe thì kể chuyện cho nghe
If you want to hear, I'll tell you story
Con ới! Con ơi! Con ơi! Con ời!
My child! My child! My child! My child 

2
Cha ơi ! Cha ơi ! 
Daddy! Daddy!
Cha đã đi nhiều!
You've travelled alot!
Đi những nơi nào?
Where have you gone to? 
Nghe thấy những gì?
What things have you seen?
Kể lại con nghe
Tell us again
Nghe thấy những gì?
What things have you seen?  
Kể lại con nghe.
Tell us again.

Con ơi! Con ơi!
My child! My child!
Cha đã nghe toàn là lời cao sang
I've heard all the high and mighty words
Nhân Ái, Nhân Quần ngập Đại Tây Dương!
Of Compassion, Community that overflow into the Atlantic!
Cha đã soi mình vào dòng sông Seine
I've seen my reflection in the Seine's current
Ôm ấp nhân tình ở ngọn Eiffel
Embraced a lover atop the Eiffel Tower
Nhưng con ơi!
But my child!
Trong lúc xuân tình vừa bừng hơi men
But from the time my youth came to ferment
Cha bỗng se mình vì chợt nghe lên
I suddenly felt unwell because I heard rising
Tiếng khóc la rền của Mẹ Gio Linh
The wailing sobs of the Gio Linh mother
Chen tiếng vô tình của bọn yêu tinh
Merged with sounds of indifference from the demons
Buôn súng buôn tiền, làm giầu lên trên
Who deal in guns and currency, getting rich upon
Thân xác dân hiền.
The corpses of gentle folk
Cuộc đời như điên
It's like life has gone mad
Nghe súng bom liền, nổ từ hai bên
Listening to continuous guns and bombs, exploding on two sides
Nghe tiếng dân mình chửi bọn lưu manh
Hearing our folk cursing the hooligans
Nghe thuế điên cuồng thịt gạo leo thang
Learning of insane taxation as meat and rice prices climb higher
Con ới! Con ơi! Con ơi! Con ời!
My child! My child! My child! My child!

3
Cha ơi! Cha ơi!
Daddy! Daddy!
Cha đã đi nhiều!
You travelled alot!
Đi những nơi nào?
Where have you gone?
Trông thấy những gì?
What things have you seen?
Thuật lại con nghe
Tell us again
Trông thấy những gì?
What things have you seen?
Thuật lại con nghe.
Tell us again.

Con ơi! Con ơi!
My child! My child!
Đêm Giáng Sinh (cuối năm) nào ở miền Tân Châu
On one Christmas (year's end) eve in the New World
Cha đứng trên lầu chọc trời trông theo
I stood atop a skyscraper looking at
Dân chúng ra vào, quà tặng khen nhau,
The folks coming and going, bearing gifts, complimenting each other
Chơi tuyết bên cầu, trẻ đùa xôn xao
Playing in the snow by the bridge, kids in a ruckus
Nhưng con ơi 
But my child
Trên những hoa đèn chập chờn công viên
Upon the latterns that flickered in the park
Bỗng thấy in hình một miền tre xanh
I suddenly see printed an image from a land of green bamboo
Đôi bé quê mình quỳ gục trên mương
A pair of kids from my homeland, slumped over in a ditch
Anh lớn tay choàng chịu đạn cho em
The elder shielded a bullet for the younger
Vết máu trên đường, một tràng liên thanh 
Blood stains the road, a burst of machine gun fire
Ôi! Mỹ Lai thành quà tặng No-en
Oh! Mỹ Lai is now a Christmas gift
Cho những thiên đường của từng con em
For the wonderland of these children
Trong những gia đình gọi là văn minh
In these families called civilized
Con ơi! Con ơi! Con ời! Cha ơi!
My child! My child! My child! My child!

4.
Cha ơi! Cha ơi!
Daddy! Daddy!
Cha đã đi nhiều!
You've travelled alot!
Cha đã đi nhiều
You've travelled alot!
Cha nhắn nhe gì?
What have you got to tell us?
Để tụi con nghe
Tell us kids
Cha nhắn nhe gì?
What have you got to tell us?
Để tụi con nghe.
Tell us kids.

Con ơi! Con ơi!
My child! My child!
Cha muốn thưa rằng:
I've got to admit
Địa cầu xoay nhanh
The globe's spinning fast
Kiếp sống thanh bình, người người mưu sinh
A tranquil existence, people earning their living
Sao nước non mình còn nhiều điêu linh
Why does our land still have so much misery
Ai đã cố tình đẩy cuộc đua tranh
Who has deliberately pushed us to fight?
Đem cháu con mình làm vật hi sinh
Bringing our children to become sacrificial objects
Đất nước hai miền chật chội oan khiên.
Our nation is cramped into two unjust regions
Ôi con ơi!
Oh children!
Cha có đi tìm một niềm vui riêng
I sought my own happiness
Cũng thấy thẹn thùng vì tội gom chung
Yet feel ashamed because of our common crimes
Thế giới lẫy lừng để một quê hương
This famed world leaves us a homeland
Chua xót vô vàn!
Of limitless pain!
Thật là vô lương
It's truly unconscionable
Cha muốn thưa rằng:
I have to admit:
Người Việt đau thương
The Vietnamese people are in pain
Thế giới âm thầm, thủ phạm lâu năm
The world's depressed, the culpits live long
Con ới! Con ơi! Con ơi! Con ời!
My child! My child! My child! My child!

CODA
Con ơi! Con ơi!
My child! My child!
Thế giới bên ngoài, cha đã đi nhiều
The world outside, I've travelled alot
Nhưng cha có đi hoài, chỉ buồn thêm thôi
But if I keep going, I'll just be sadder
Cha có đi hoài, chỉ buồn thêm thôi
If I keep going, I'll just be sadder
Chỉ buồn thêm thôi
I'll just be sadder
Chỉ buồn thêm thôi!
I'll just be sadder!


Bài ca "Kể chuyện đi xa" của Phạm Duy theo nhịp slow rock (12/8) bắt đầu với tiếng trumpet như kèn lệnh / fanfare.  Có những đoạn của các con hát (viết chữ ngả) được ban Bốn Phương (các nữ ca sĩ Quỳnh Giao, Vân Quỳnh, Vân Khanh và Vân Hòa) biểu diễn.  Chính Phạm Duy đánh vài người cha.  Bài ca được thu thanh lần duy nhất cho băng cát xét Jo Marcel 25 năm 1972.

Đây là một trong những bài ca của Phạm Duy mà ít người biết đến, chắc vì chỉ có tác giả mới hát được.  Bài ca này có tính thời sự kể về tình hình toàn cầu và Việt Nam cách đây hơn 40 năm.  Phạm Duy soạn bài ca này ở Mỹ - hình như ở thành phố New York năm 1970.  Phạm Duy năm ấy là du khách được nhà nước Mỹ ưu đãi. Trong chuyến đi ấy ông được biểu diễn nhiều chỗ kể cả trên đài truyền hình.

Lời ca của "Kể chuyện đi xa" có một tấm nhìn bao quát với chất tâm sự, tiêu sử, thời sự, và lịch sử.  Phạm Duy nhắc đến kinh nghiệm ông trải qua được kể lại cho các con.  Ông cũng ôn lại thông tin được biết đến qua sách báo.  Và tất cả các sự kiện đi qua cái lọc của bộ não và trái tim của ông.

Dù biết mình được ưu đãi - đã có điều kiện thăm nhiều xứ đẹp và lạ - Phạm Duy coi nhẹ việc của mình.  Nhạc sĩ kể chuyện chỉ "lê gót" và "la cà."  Tiếng kèn đầu bài ca chỉ làm mỉa mai chuyến đi này.  Còn mặc dù được nhiều kinh nghiệm nhưng ông cũng nhận rằng tấm hiểu biết của mình còn hạn chế: "Cha đi nhiều mà chẳng bao nhiêu."  Trí tuệ được phát triển đến lúc mình biết rằng trí tuệ của mình còn thiếu, không đủ.

Đọc lại Hồi ký của Phạm Duy thì dễ xem rằng thời kỳ vẻ vang, vui thích nhất trong đời ông từ khi ra khỏi nhà bắt đầu sự nghiệp lưu diễn và sáng tác của ông.  Từ khi đi theo gánh hát cải lương Charlot Miều đến khi đi theo kháng chiến.  Nhưng trong bài ca này ông nhắc "Trong lúc xuân tình vừa bừng hơi men / Cha bỗng se mình..."  Nghĩa là tình hình của dân và nước mình đang càng tồi tệ, là "như điên" - "Tiếng khóc la rền của Mẹ Gio Linh  / Chen tiếng vô tình của bọn yêu tinh."  Bọn yêu tinh là ai?  Chính là những kẻ "buôn súng buôn tiền, làm giầu lên trên / Thân xác dân hiền."  Các kẻ với thế lực vô hình này vô ý thức và vô nhân đạo tìm cách để làm cho cá nhân mình thêm giàu thêm mạnh mặc kệ ai thực sự phải trả giá.  Vậy kẻ thù của cũng khó phát hiện ra và ngăn cản.

Đến nửa đời Phạm Duy như có khủng hoảng cá nhân.  Phạm Duy có lý tưởng cao muốn đóng góp cho một nước tự do, độc lập, hạnh phúc, an bình, bình đằng.  Song kinh nghiệm đi nhiều nơi cho Phạm Duy biết rằng các chữ vinh quang ấy dễ bị trống rỗng hóa - các "lời cao sang" như "Nhân ái," "Nhân quần" được nhắc đến nhiều đến mức "ngập Đại Tây Dương." Nhưng dân thường dễ bị lừa bởi các ý đẹp này đã thành công cụ của "bọn yêu tinh" ở trên. 

Về riêng tình hình ở Việt Nam lúc bấy giờ thì dân hiền phải "nghe súng bom liền, nổ từ hai bên."  Đôi chữ "hai bên" rất quan trọng.  Hai bên đều có tội vì đều cầm và bắn súng.  Song không chỉ hai bên mà các thế lực hữu hình và vô hình ở đằng sau.  Đạn bom bắn vào mình xuất phát từ nguồn nào - từ "bọn lưu manh" nói chung.

Phạm Duy đi từ quê mình đang bị lâm vào chiến tranh liên miên đến "miền Tân Châu" là một xứ hiện đại và văn minh chứ?  Xứ sở thịnh vượng này cũng sản xuất đầy đủ tiềm lực tài chính để cuộc chiến này được thi hành đều và lâu dài.  Phạm Duy đến trung tâm tài chính của nước cung cấp vũ khí và lính tan phá nước mình mà không thấy dấu vết nào của cuộc chiến tranh.  Dân thường, những "gia đình gọi là văn minh" sống không biết gì về chiến tranh. Cảnh vui tươi của mùa nô-el với "trẻ đùa xôn xao" làm cho Phạm Duy thêm đau đớn về tình hình ở quê mình.  Ông bị ám ảnh chợt thấy "đôi bé ... quý gục trên mương" thành hình ảnh trên hoa đèn công viên.

Phạm Duy như mỗi người ước được "kiếp sống thanh bình, người người mưu sinh."  Mỗi người đều có ước mơ như thế thì "sao nước non mình còn nhiều điêu linh."  Ông hỏi "ai đã cố tình đẩy cuộc đua tranh"?  Tất nhiên có bình lực từ ngoài vào - từ Mỹ, Liên Xô, Trung Quốc, Nam Hàn, Đông Á, Úc, v.v.  Nhưng lực lượng quyết định là người cầm súng sẵn sàng bắn vào đồng bào mình.  Kết quả là "cháu con mình làm vật hi sinh."

Một trong những lý do nhạc và lời của Phạm Duy được xuất sắc là vì ông không bao giờ che mắt, bịt tai mình.  Ông làm công dân Việt Nam còn là công dân của thế giới nói chung, vậy muốn biết về mọi sự xây ra, mặc được biết làm mình "chỉ buồn thêm thôi."  Bài ca "Kể chuyện đi xa" có kết luận "Thế giới âm thầm, thủ phạm lâu năm."  Quả đất này bốn mươi năm sau vẫn thế.  Hiện nay Việt Nam được hòa bình nhưng "dân hiền" ở Syria, Zaire, Iraq, Myanmar, Afghanistan còn bị lâm vào chiến tranh.  Vậy Phạm Duy đặt vấn đề cho mọi người chúng ta - làm sao mà "đi tìm một niềm vui riêng" lúc mà "cũng thấy thẹn thùng vì tội gom chung."  Nhân sinh được toàn cầu hóa bắt phải liên kết với nhau.  Gần mỗi sinh hoạt của mình có ảnh hưởng cho người khác - người hàng xóm, hay người cách mình một nửa trái đất.  Nhưng dù được như thế, mỗi người cũng như bó tay vì những yếu tố có thế lực to mạnh hơn mình biết bao.  Vậy làm người có ý thức như Phạm Duy rất khó và rất buồn.  Song Phạm Duy không che mắt còn đòi chúng ta không che mắt nữa.  Ông soạn một tác phẩm phản ánh một thời xa xôi khi còn chiến tranh ở quê ông, nhưng cũng phản ánh thân phận của mọi người với lương tâm muốn có một đời sống khai hóa và nhân đạo.

31 tháng 1, 2013

Hành trình Phạm Duy qua dòng lịch sử - Jason Gibbs (2002)

Ngọc chuyễn dịch từ bản thảo Anh ngữ "Phạm Duy's Travels through History", Tạp chí Văn 15 tháng 11 2002


Tôi rất hân hạnh được phát biểu trước quý vị hôm nay tại một buổi hội luận quan trọng như thế này. Thật là đáng ngại phải phát biểu trước một cử tọa quảng bác đã sống với nhạc Phạm Duy, và thậm chí tôi còn phải e sợ hơn nữa khi trình bày trước mặt đề tài bài nói chuyện của tôi. Tôi biết tôi không thể bắt đầu từ một sự nghiệp âm nhạc phong phú đa dạng như vậy để xét đoán nhạc Phạm Duy, vì thế tôi sẽ chỉ chọn một mảnh nhỏ hẹp trong số tác phẩm của ông. Việc khảo cứu của tôi từ bấy lâu chuyên về ca khúc Việt Nam hiện đại. Tuy trọng tâm của tôi đặt vào âm nhạc, thật khó có thể tách rời âm nhạc khỏi những biến cố lịch sử rộng lớn hơn, nhất là trong trường hợp Việt Nam, đất nước mang một lịch sử gian nan đầy tranh chấp. Trong bài nói chuyện của tôi hôm nay, tôi muốn nói về một phần nhạc Phạm Duy thể hiện kinh nghiệm sống trong những thời kỳ hết sức gian nan. Tôi xin được nói ca khúc của ông là sự phản hồi trung thực trước những biến cố thường là hi hữu, và do đó là hình ảnh chính xác của những thời kỳ này.

Suốt dòng đời Phạm Duy, Việt Nam là một nước thuộc địa, bị chiếm đóng trong Thế Chiến, chịu nạn đói, đấu tranh giải phóng dân tộc, trải qua cuộc chiến người Việt đánh người Việt, kinh qua bất ổn về chính trị, và sau hết hàng trăm ngàn người Việt bỏ nước ra đi làm thân tị nạn rải khắp bốn phương tám hướng. Người ta có thể hiểu ý nghĩa lâu bền của một tác phẩm như "Truyện Kiều" của Nguyễn Du với những câu như:
Trải qua một cuộc bể dâu,
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.
Người nghệ sĩ sáng tác đóng vai trò gì trong những giai đoạn phức tạp như vậy? Tôi cho rằng họ làm chứng nhân, và biểu lộ những gì đẹp nhất, cao quý nhất của nhân sinh.
Năm 1946 Việt Nam ở vào đêm trừ tịch của cuộc kháng chiến chống Pháp. Phạm Duy viết một ca khúc mà chính ông cũng đã quên, tựa đề "Phương Trời Xa". Hai câu đầu của bài hát như sau:
Một bước ra đi không cần hoài nghi
Nhắm tới phương trời xa xa ca khúc nhạc đời!
Tiếng Anh chúng tôi có thành ngữ "Coi chừng điều bạn ước, có ngày sẽ gặp" (1). Từ bước đầu tiên ấy, khi gia nhập kháng chiến, lên đường với cây đàn trên tay, ông không ngừng vận hành theo "nhạc đời". Những ai trong quý vị biết về Phạm Duy đều biết ông vẫn liên tục trên bước đường - qua Paris, London, Hà Nội, Sài Gòn và khắp vùng Bắc Mỹ. Trong bài này tôi muốn nói đến một vài cuộc lữ hành những năm đầu cuộc đời sáng tác của ông đã đưa ông va chạm với những biến cố lịch sử, và những nhận thức ông đem đến cho chúng ta về lịch sử, về đời sống.

Nếu quý vị chưa đọc, tôi xin được mời tất cả quý vị đọc hồi ký của Phạm Duy về giai đoạn này. Những trang hồi ký chứng tỏ lòng yêu nước Việt không mệt mỏi diễn đạt bởi con người mang nhiệt huyết nghệ sĩ vô bờ. Ông viết nhiều bài hát cho kháng chiến như "Nhạc Tuổi Xanh", "Khởi Hành", và "Nhớ Người Thương Binh". Những ca khúc này rất phổ thông và được giới lãnh đạo Việt Minh đánh giá rất cao. Lúc này ông cũng hiểu ra chủ nghĩa xã hội với nghệ thuật chủ đích tìm vào đề tài hiện thực và sử dụng cuộc đấu tranh trong thực tế để tạo ra những điển hình khích động quần chúng. Phương thức này có thể dẫn đến những thể hiện một chiều, giáo điều, nhưng qua tay Phạm Duy chúng ta có được những hình tượng bất hủ mạnh mẽ, vì những nhân vật của ông có thật bằng xương bằng thịt và vì ông nắm bắt được cái hồn của sự việc.

Một số ca khúc đặc sắc nhất của ông viết trong chuyến công tác ông đảm nhận đi cùng một nhóm nhỏ các nghệ sĩ từ Thanh Hóa ở liên khu 4 đến Thừa Thiên ở liên khu 5. Chuyến đi này cực kỳ nguy hiểm, đưa ông đến vùng có những bạo hành khủng khiếp tàn hại dân làng vốn dĩ đã nghèo khổ. Đây là một vùng sâu trong thời kỳ vệ tinh và phóng viên toàn cầu chưa phổ biến, do đó những sự việc này không hề được công bố. Những ca khúc của Phạm Duy có lẽ là bản tường trình chính xác nhất chúng ta có được. Tôi muốn đem chương 29 tập hai hồi ký của ông, đoạn ông mô tả chuyến đi, làm tài liệu bắt buộc cho sinh viên muốn học về lịch sử Việt Nam thế kỷ 20.

Trường hợp ông đảm nhận công tác này cũng rất đặc biệt. Ông vừa đính ước với người vợ tương lai, Thái Hằng, lúc ấy ông cảm thấy bị áp lực phải đi để thuyết phục vợ và thượng cấp rằng ông là người nghiêm túc và sẽ từ bỏ cuộc đời đãng tử. Chuyến đi đưa đến nhiều ca khúc đặc sắc - "Bao Giờ Anh Lấy Đồn Tây"(2), "Về Miền Trung", "Mười Hai Lời Ru", và "Bà Mẹ Gio Linh". "Về Miền Trung" là bản tả thực sắc nét một khung cảnh trải qua bao đau thương không cùng. "Bà Mẹ Gio Linh" là câu chuyện người mẹ một chiến sĩ bị Tây chém đầu. Người mẹ ra chợ nhặt lại cái đầu đứt lìa của con. Quang cảnh này cực kỳ mãnh liệt và xúc động. Tôi có nghe một cuộc phỏng vấn ca sĩ Thái Thanh trên đài phát thanh, cô kể mỗi lần hát cô lại xúc động ứa nước mắt. Nhưng hơn cả cảm xúc của sự kiện, bài hát là lời chứng đời đời cho tình yêu và lòng can đảm trong những giai đoạn cực kỳ đau thương nguy hiểm.

Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, ông trở lại Thanh Hóa, kết hôn. Chẳng bao lâu sau ông lại đi bộ một chuyến nữa, lần này với người vợ mới cưới đang mang thai, đến Việt Bắc, nơi giới lãnh đạo văn hóa của Việt Minh mời ông tham dự Đại Hội Văn Nghệ năm 1950. Giới lãnh đạo biết rất rõ hiệu quả và tính phổ thông của ca khúc của ông. Trong khi chuyến đi này không đem lại cho chúng ta bản nhạc nào, nó lại dẫn đến tình huống giúp chúng ta có được những ca khúc sau đó. Trong cuộc họp, nhạc sĩ lão thành Nguyễn Xuân Khoát báo cho ông quyết định của lãnh đạo gửi ông đi dự một hội nghị quốc tế ở Đông Đức - một vinh dự lớn lao mà hầu như bất kỳ nhạc sĩ đồng chí nào của Phạm Duy trong kháng chiến cũng sẽ hân hoan đón nhận. Phạm Duy từ chối đề nghị này, nói rằng ông không thể đi không có vợ bên cạnh, cảm thấy ông cần có mặt bên vợ khi bà sinh nở. Nhưng nếu đọc hồi ký của ông, hình như lý do thực sự là ông khó chịu trước sự khống chế nghệ thuật tập trung tăng dần từ giới lãnh đạo Việt Minh. Nhạc sĩ Tô Vũ kể với tôi chuyện ông được cử đi tìm Phạm Duy để bảo ông rằng lãnh đạo đã khoan hồng và đồng ý cho phép vợ ông đi cùng ông nếu ông chịu đi Đức. Tô Vũ không gặp được ông, nhưng khẳng định là nếu ông gặp được, Phạm Duy có lẽ đã ở lại với kháng chiến. Cá nhân tôi không nghĩ ông sẽ ở lại.

Trong lần trở lại Thanh Hóa, không khí nghệ thuật đã thay đổi đầy kịch tính. Tướng Nguyễn Sơn, người ủng hộ nghệ sĩ trí thức hết mình, bị thay thế, và thành phần lãnh đạo mới chú trọng nhiều hơn vào việc tăng cường kỷ luật. Theo một nguồn tư liệu tôi phỏng vấn được, Phạm Duy và gia đình thỉnh thoảng bị quản thúc. Sự đổi thay điều kiện hoạt động, thêm vào mối lo cho vợ và con trai mới sinh đưa ông rời bỏ kháng chiến hồi cư về Hà Nội.

Chuyển biến lớn kế tiếp trong đời Phạm Duy thực chất là việc tiên liệu cuộc di cư vĩ đại dân chúng miền Bắc vào Nam diễn ra từ đầu đến giữa thập niên 50. Trong hồi ký, ông viết năm 1950 ở Việt Bắc ông đã biết Việt Minh sau cùng sẽ đánh bại Pháp, do đó ông hẳn đã dự liệu ông sẽ rời bỏ phe chiến thắng, và có lẽ chưa nhất định liệu trong tương lai ông có thể trở về Hà Nội, sinh quán của ông. Hành trình từ Bắc vào Nam cùng với gần một triệu đồng hương, được diễn tả qua những ca khúc như "Tình Hoài Hương", "Tình Ca", "Thuyền Viễn Xứ", . "Tình Hoài Hương" là hình ảnh một Việt Nam lý tưởng, một quê hương lý tưởng. Nhưng quê hương trong bài hát là một quê hương mà tác giả nuối tiếc đã mất đối với ông. "Tình Ca" là tình khúc cho nước Việt ấy, cho tiếng nói, giang sơn, và người dân. Nhưng đây là ý thức trở nên khẩn thiết trên bối cảnh đất nước chiến tranh, bên bờ chia cắt. Với những gì Việt Nam trải qua, làm sao tất cả những yếu tố này có thể tồn tại? Phạm Duy xác định sự tồn tại của quốc gia qua tiếng nói, qua lời mẹ ru, câu Kiều, qua miệng cười thiếu nữ, qua sức lao động miệt mài của nông dân nghèo.

Đến 1954, có hai nước Việt Nam. Trước thảm trạng này, Phạm Duy viết một ca khúc về cuộc lữ hành tưởng tượng và bất khả thi lúc ấy dọc chiều dài Việt Nam từ Bắc xuống Nam - "Con Đường Cái Quan". Trước đó Phạm Duy đã du hành tương tự dưới những tình huống rất khác, là thành viên gánh hát cải lương Đức Huy năm 1944. Người lữ khách của trường ca này cũng là một ca nhân, nhưng ông không du hành để biểu diễn, mà để gặp gỡ và tái hợp người người trên đường ông đi dọc chiều dài đất nước. Tác phẩm này được coi như là một kiệt tác và tôi tin rằng sức sống của nó xuất phát từ những diễn biến phức tạp vốn đã sinh ra cảm xúc cho cảnh sống trong một đất nước bị chia cắt.

Một kết quả tốt đẹp khác của những vốn sống lãng du khắp đất nước của Phạm Duy là việc khảo cứu dân ca. Lần đầu tiên tôi biết đến Phạm Duy là khi đọc quyển "Đặc Khảo về Dân Nhạc ở Việt Nam" (Musics of Vietnam) của ông và hai dĩa nhạc ông thực hiện cho một hãng dĩa Mỹ, Folkways Records. Ông soạn hai bài dân ca mới thể hiện kiến thức này, và giúp duy trì phát triển nhạc dân tộc Việt Nam. Ông cũng sang Mỹ để giúp phổ biến những hiểu biết về Việt Nam và âm nhạc Việt Nam.

Quyển "Tìm Hiểu Việt Nam" (Understanding Vietnam) của Neil Jameson kể lại lần Phạm Duy trình diễn trên truyền hình Mỹ trong một lần đi này. Lần ấy ông hát cho khán giả nghe ca khúc "Nhân Danh". Đó là một ca khúc nhức nhối, hiển nhiên mối thù hận khát máu tăng dần sức hủy diệt.
Vì giữ mình tôi phải giết một người
Vì gia đình tôi phải giết mười người
Vì xóm làng tôi phải giết ngàn người
Jameson viết: "Câu cuối được hát lên chói tai, lạc điệu. Sau một khắc lặng im sững sờ, cử tọa đang bàng hoàng bắt đầu vỗ tay tán thưởng. Nhưng Phạm Duy, nhà nghệ sĩ biểu diễn bậc thầy, ngắt ngang tiếng vỗ tay khi đến hồi nhiệt liệt nhất. Ông bảo mất mát và hủy diệt chỉ để hối tiếc, không bao giờ hoan nghênh hay tặng thưởng. Rồi ông bắt đầu hát lại, trình bày một khía cạnh mới: Vì giữ mình tôi phải cứu." (3)

Đây là một Phạm Duy nhận biết rất rõ sự tàn phá của chiến tranh, sự chai sạn có thể có với bạo lực không cùng. Một trong những ca khúc nhức nhối nhất của ông viết trong lần thứ hai đến Hoa kỳ năm 1970. Đây là thời điểm công chúng Mỹ biết đến sự cố gọi là "Thảm sát Mỹ Lai". Đây là một trong những thời khắc đen tối quay cuồng trong lịch sử nước tôi. Người Mỹ chúng tôi luôn luôn tưởng tượng mình là những "chính diện" nón trắng đến giải cứu để thế giới tốt đẹp hơn. Bỗng dưng chúng tôi phải đối diện với thực tế có những bối cảnh mà đồng bào tôi có thể gây ra tội ác khủng khiếp. Phạm Duy thấy mình trong một phòng khách sạn ở New York, một mặt xa rời cuộc chiến ở quê nhà, mặt khác qua báo chí, ở giữa trạng thái tự nhận diện thảm hại của nước Mỹ.

Ca khúc ông viết trong tình huống này, tựa đề "Kể Chuyện Đi Xa", về buổi hội ngộ của người cha và các con sau chuyến đi từ nước ngoài. Ca khúc trong lần trình diễn này mở đầu với hồi kèn lạc lõng - người cha của những đứa trẻ, thân yêu và khả kính, trở về như một anh hùng. Nhưng ông không cảm thấy mình là anh hùng. Những diễn biến ông nhận thấy trên thế giới khiến ông cảm thấy thua cuộc. Những đứa con ngây thơ nài nỉ "Cha ơi, cha ơi, cha đã đi nhiều! Cha đi đâu? Cha thấy gì? Kể chúng con nghe đi cha". Chúng ta nghe một giọng nói, mỏi mệt vì thấu hiểu bất công trên thế giới, trước tiên kể những điều tốt đẹp ông đã nghe đã thấy. Rồi ông phải đối chiếu những điều tốt đẹp này với sự xấu xa của thế giới - "Mỹ Lai đã thành món quà Giáng Sinh". Ông có thể tưởng tượng mọi người lợi dụng chiến tranh trục lợi cá nhân, buôn súng, và tự thỏa mãn.

Có một thành ngữ Việt Nam - "Đi một ngày đàng, học một sàng khôn". Trong chuyến đi này, sàng khôn của Phạm Duy đầy lên, bung rách. Ông kết thúc "Cha cứ đi hoài? Chỉ buồn thêm thôi". Nhưng với tôi ca khúc này rất tuyệt và rất hợp lúc, vì nó nói lên tình hình hiện tại cho tất cả chúng ta. Trong khi ông hát về những diễn biến ở một thời điểm nhất định trên quê hương ông, ông đồng thời phát ngôn vấn đề nan giải chung của chúng ta. Ông đối diện với nhận thức rằng nhân loại, mặc cho bao nhiêu tôn chỉ tiến bộ và văn minh, vẫn có thể có bạo lực và tham tàn không nói hết được, đôi khi thậm chí không hay biết việc mình đang làm. Và nhân loại xem ra không đủ sức ngăn chận sự vô nhân đạo này. Tôi thấy rõ điều này trên thế giới ngày 9-11, mâu thuẫn Trung Đông, Nam Tư cũ, Phi châu, và nhiều nơi khác. Vì thế Phạm Duy đã viết một bài hát mạnh mẽ vượt qua những nền văn hóa và nói lên những rối ren dai dẳng của tình hình hiện tại.

Nhưng tôi không muốn kết thúc trong âm sắc tuyệt vọng. Còn một nơi nữa Phạm Duy đã đến, không xa trong không gian, mà rất xa với những gì từ các cuộc hành trình kia. Đây là hành trình vào địa đàng. Mặc cho những hiểm nguy và thương đau có thể bão hòa bất kỳ ai trong chúng ta, lúc nào cũng vẫn còn chỗ cho tình yêu và hoan lạc. Phạm Duy viết quá nhiều và quá hay về cuộc hành trình ái ân này, tôi thậm chí không cố gắng liệt kê các ca khúc. Nhưng tôi đặc biệt nghĩ đến bài "Giã Từ Ác Mộng" viết gần như cùng lúc với bài tôi vừa kể. Trong bài hát này là chuyến đi cùng nhau vào Địa Đàng.
Ta đưa nhau đến cõi địa đàng
Về một nơi sông dài nước rộng
Ta yêu nhau trên bãi cỏ hoang
Tôi nghĩ tầm quan trọng của Phạm Duy xuất phát từ việc ông có thể vừa nhìn vào ác mộng rong mắt vừa quay lưng lại ác mộng và tìm về thế giới đam mê ngập tràn.
Kết thúc "Kiều", Nguyễn Du viết:
"Chữ tài liền với chữ tai một vần"
Nói cách khác, người có tài năng sẽ gặp tai ương. Phạm Duy rõ ràng đã lâm vào những tai ương - ông chứng kiến những đau thương của chiến tranh, ông bị buộc phải rời quê hương hai lần. Và rồi Phạm Duy diễn dịch tai ương vào ca khúc mang lại sự hiểu biết, và thậm chí ở mức độ nào đó, ý nghĩa cho một giai đoạn khó khăn trong lịch sử. Phạm Duy viết quá nhiều ca khúc với thật nhiều đề tài từ thật nhiều quan điểm mà tôi biết có những chỉ trích về ông cho sự không đồng nhất hoặc không gắn bó trung thành với một lý thuyết hay lý tưởng định sẵn.

Thế nhưng tôi nhìn thấy sự nhất quán rõ ràng xuyên suốt tác phẩm của ông - tình yêu đất nước, yêu đồng bào, và tôi nghĩ một tình yêu lớn lao hơn cho cuộc đời và tình yêu nhân sinh. Tôi thích những lời ông muốn dùng để viết trong bài "Viễn Du":
Phiêu du
Khắp nẻo đây đó .. Bỗng người say sưa
Thấy hoàn cầu mơ khúc đại đồng ca

Ca khúc Phạm Duy, trong khi có lẽ thuộc về dân tộc Việt Nam, rất quan trọng cho tất cả chúng ta. Chúng đem lại cho chúng ta sự hiểu biết về nhân sinh trong những thời kỳ đen tối nhất và tốt đẹp nhất.


Chú thích của người dịch:
  1. "Be careful what you wish for, yet may just get it"
     
  2. Sau đổi thành "Quê Nghèo" cùng với một vài sửa đổi trong lời ca
     
  3. "The final line was sung harshly, out of cadence. After a moment of stunned silence the shocked audience began to applaud. But Pham Duy, master showman, cut off the applause as it approached its peak. Loss and destruction, he told them, are only to be regretted, never applauded nor prized. He then began to sing again, providing a new perspective - For my defense I must save, must save, save one man, save one man ."

30 tháng 1, 2013

Phạm Duy: Giấc mơ hòa hợp chưa thành - Jason Gibbs


"Mày phải bỏ cái tính "chơi" của mày đi."
Phạm Duy kể lại những lời này của nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát nói với ông năm 1950 lúc ông lên Việt Bắc tham dự Đại hội Văn nghệ Nhân dân.  Điều may cho chúng ta, những người yêu nhạc Việt, là Phạm Duy đã biết rằng mình không thể nào bỏ "tính chơi" ấy.  Lãnh đạo văn nghệ của Việt Minh đã nhận ra tài năng của ông và muốn khai thác tài năng ấy.  Họ ưu đãi Phạm Duy cho kết nạp Đảng, làm đại diện  liên hoan ở nước ngoài, được thưởng huân chương và thành một cán bộ văn nghệ đàng hoàng.  Lúc ấy Phạm Duy đang ăn lương của Việt Minh.  Ông đã lưu diễn và đi thực tế nữa để sáng tác những tác phẩm xuất sắc nhất của cuộc kháng chiến ấy.  Song, mặc dù ông thuộc vao cơ chế, Phạm Duy có ca một tính độc lập.

Còn tính chơi ấy có thật.  Lãnh đạo bảo phải "khai tử" một bài ca "chơi"  noi về một cuộc tình là "Bên cầu biên giới" nhưng Phạm Duy thấy khó chịu và không chấp nhận.  Tất nhiên chỉ nói đến "tính chơi" không thể nào đủ và xứng đáng khi nghĩ đế ông. Ông tôn trọng nghệ thuật của mình, tôn trọng dân Việt Nam và nhân loại nữa.  Tôi nghĩ như thế thực sụ phải gọi là tính nghiêm túc.

Lúc bấy giờ mọi người ở vùng kháng chiến đều biết đến ca khúc của Phạm Duy.  Đây là bởi vì các bài ca của ông viết hay và kịp thời, và còn nữa vì ông là một diễn viên rất hấp dẫn đi lưu diễn khắp miền Bắc. Dù không mở lớp, Phạm Duy đã thành một thầy giáo dạy môn sáng tác cho bao nhiêu thanh niên thời kháng chiến (và các thế hệ sau).  Chính Phạm Duy tìm cách khai thác kho nhạc dân gian làm cho nền nhạc kháng chiến được có "tính dân tộc" theo chủ trương của lãnh đạo văn nghệ.  Cùng thời với Phạm Duy đa số nhạc sĩ Việt chỉ viết hành khúc, hay ca khúc nửa cổ điển.  Tôi nghĩ rằng Phạm Duy dễ gần với nhạc dân gian vì ông dễ hòa với dân, và vì ông có sức quan sát rất tinh vị.  Hồi đó, ông chưa thực sự nghiên cứu nhưng được thâm nhập văn hóa dân gian một cách rất tự nhiên.

Chắc vì biết mình có tiếng ham chơi nên ông nhận đi một chuyến đi mạo hiểm vào miền Trung Bắc, khu mà Pháp từng gọi là "la rue sans joie."  Điều lạ là người "chịu chơi" này (tôi nói đùa vì biết Phạm Duy không bia rượu chè) sắp lấy vợ nhưng hoãn lại đám cưới của mình để đi thực tế.  Trong Hồi ký Phạm Duy cũng nói rằng ông đã muốn chứng tỏ sự "can đảm" và "vinh dự" của mình cho người vợ tương lai.    

Trong vùng miền Trung ấy, Pháp đàn áp quân và dân rất khốc liệt.  Hiện nay quả đất này vẫn còn nhiều chiến tranh, nhưng cũng có phóng viên đến, ghi và phát hành sự tàn ác của chiến tranh và đau khổ của dân thường trước lương tâm của dân khắp thế giới.  Nhung trong cuộc chiến chống Pháp không có phóng viên nào vào chiến khu  để kể đến nỗi đau khổ ấy.  Chỉ có nghệ sĩ với cây đàn.

Nhắc đến chuyến đi này Phạm Duy mô tả một cảnh tuong "không một bóng trai."  Bài ca "Mười hai lời ru" vẽ hình ảnh thành quả là các mẹ ôm các con trai bị giết trong lòng.  Lúc bấy giờ chính sách văn hóa của Việt Minh là chủ nghĩa thực tế xã hội.  Nghĩa là phản ánh thực tế nhưng tô điểm thêm để làm thông điệp theo nhu cầu thời đại. Nhạc Phạm Duy không son phấn. Ông soạn những lời mộc mạc để diễn tả hành động của một "Bà mẹ Gio Linh."

Quân thù đã bắt được con
Đem ra giữa chợ cắt đầu
Nghẹn ngào không nói một câu
Mang khăn gói đi lấy đầu
Bài ca này có quân thù nhưng không có hận thù - và không có lời chiến đấu và căm hờn nữa.  Phạm Duy viết về cử chỉ nhân đạo và dũng cảm của bà mẹ này. Tác dụng của lời ca cảm động này quá mãnh liệt và gây được ấn tượng sâu sắc đến bây giờ.  Tôi đã nói về bài hát này với một người ái mộ nhạc Phạm Duy mà cũng đã theo Việt Minh đến cùng.  Ông ấy nói "ai nghe cũng phải khóc."

Nhưng đây không phải là giọt lệ đầu hàng mà là giọt lệ đồng cảm và thúc đẩy.  Trong Hồi ký Phạm Duy viết rằng bài ca "Bà mẹ Gio Linh" "bị phê bình là tiêu cực."  Nhưng ông cũng bị phê bình nữa khi về thành (dinh tê) và đặt lời ca mới với chủ đề "Bà mẹ nuôi."  Ông bảo với tôi là lúc về thành nếu hát lời ca nguyên bảnông sẽ bị bắt đi tù.  Ông tự hào với giai điệu của mình phản ánh nhạc miền Trung và đặt lời mới vì rất thích giai điệu ấy. Còn bài ca ấy phản ánh thời vẻ vang nhất của ông.

"Bà mẹ Gio Linh" là một trong những tác phẩm sớm nhất của ông được cấp phép phổ biên ở nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ngày 21 tháng 7 2005 theo Quyết định 47 của Cục Nghệ Thuật Biểu Diễn.  Có người ở hải ngoại phê bình Phạm Duy vì ông về quê ở.  Song Phạm Duy, dù yêu hòa bình, đã về Việt Nam để tranh đấu - tranh đấu cho sự nghiệp của mình.

Gặp ông ở Thành Phố Hồ Chí Minh năm 2009 tôi không thể nào quên Phạm Duy tâm sự với tôi bằng tiếng Anh - "How I suffer!" (Tôi đau khổ biết bao!).  Được về quê là một niềm hạnh phúc, nhưng ông cũng phải xa cháu chắt yêu quý của ông, không được hưởng niềm an ủi của tổ ấm gia đình ở Thị Trường Giữa Đàng.  Ông hiến thân cho các con tinh thần của mình.
Trước khi qua đời thông tin tức mới nhất về Phạm Duy được đăng là bài "Cấp phép thêm 8 ca khúc của nhạc sĩ Phạm Duy" trên báo Người Lao Động ngày 16 tháng 1 2013. Tin đáng mừng là tám trong mười bài Đạo Ca của ông được biểu diễn trong nước Việt.  Phạm Duy phát biểu trong bài báo rằng đây "là những ca khúc nói về đạo làm người, về tình thương, lòng nhân ái và sự tu tâm dưỡng tính." Điều đáng buồn là chưa có quyết định nào về hai bài Đạo ca bỏ sót lại là "Quan Thế Âm" và "Một cành mai."

Một bạn của Phạm Duy là Phạm Thiên Thư soạn lời ca cho bài "Một cành mai" nói về Nhất Chí Mai (tức Phan Thị Mai).  Nhất Chí Mai là một trong những đệ tử ban đầu của Dòng tu Tiếp Hiện của Thích Nhất Hạnh sáng lập.  Là tín đồ của Phật giáo nhập giới, cô theo gương mẫu của người Mỹ phái Quaker Norman Morrison và tự thiêu để đòi hòa bình. "Sống mình không thể nói / Chết mới được ra lời!" là lời di chúc của cô.

Phạm Thiên Thư soạn lời ca cho Phạm Duy viết và bài ca này về sự bắt nguồn của tàn phá trong chiến tranh là nằm ở trong thái độ mỗi chúng ta.

Ôi máu đã thành sông, xương người đã thành non
Hận thù như trời bể, hờn căm vẫn còn nghe.

Loài người chỉ tìm được ân tình và hòa bình khi không còn "hận thù" và "hờn căm" với nhau.  Như thế thật sự là "đạo làm người."  Hai ông sử dụng đến ngôn ngữ và hòa âm với ý giúp người được hòa với người.

Đền nhau chỉ có chút lệ thôi!
Có lẽ tác phẩm kiệt tác của Phạm Duy là bản cantata (trường ca) Con Đường Cái Quan.  Một kỷ niệm khó quên là lúc cách đây hơn 15 năm tôi được xem các sinh viên của University of California at Berkeley Vietnamese Student Association (Hội Sinh Viên Việt Nam Đại Hộc California tại Berkeley) làm một Chương trình Văn nghệ theo tác phẩm này.  Đại hộc California tại Berkeley là một trong những trường đại học uy tín nhất trên thế giới.  Các sinh viên trường này rất giỏi, nhưng tất nhiên các sinh viên gốc Việt được "Mỹ hóa" khá nhiều rồi.  Họ (các diễn viên và tổ chức chương trình ấy) chắc đã thành những bác sĩ, kỹ sư, giáo sư, nhà khoa học và nhà doanh nghiệp trong xã hội Mỹ.  Họ làm các chương trình này để tỏ sự tự hào về quê mình và văn hóa mình, và để chia sẻ với các bạn hữu, nhất là bạn hữu người Mỹ chính gốc.

Con Đường Cái Quan là một tác phẩm rất xứng đáng cho chương trình của các sinh viên Mỹ gốc Việt.  Các sinh viên toàn là tài tử lên sân khấu với sự giúp đỡ của một vài nghệ sĩ cổ nhạc từ San Jose ra.  Qua các tiết mục của tác phẩm này họ được hiểu biết đến từng miền quê, đến phong tục tap quan, cách nói, âm nhạc của các miền.  Phạm Duy viết tác phẩm này lúc mà người Việt chưa được sống chung với nhau trong hòa bình.  Ý chính của Phạm Duy lúc viết Con Đường Cái Quan là tìm cách để làng quê của ông được thống nhất trong âm thanh và hòa âm mặc dù hòa bình chưa được đến.

Hòa bình đến cũng đã khá lâu rồi, nhưng chưa chắc hận thù và căm hờn đã hết.  Con Đường Cái Quan đã được cấp phép được phổ biên ở xứ Việt theo Quyết định số 8 ngày 21 tháng 11 2005 (tất nhiên tác phẩm này đã được hát thoải mái ở không biết mấy chục nước khác rồi).  Rồi tác phẩm này bị rút phép vài tháng sau với Quyết định số 35 ngày 8 tháng 5 năm 2006.  Đã có những người với tấm hiểu biết sâu rộng về lịch sử và văn hóa Việt Nam như các giáo sư Trần Văn Khê và Dương Trung Quốc viết thư cho Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thông tin và Du lịch xin kiệt tác của Phạm Duy được đến với quần chúng trên quê hương là nơi chôn rau cắt rôn của tác giả.  Tôi thì đề nghị Bộ Văn hóa, Thông tin và Du lịch làm một chương trình truyền hình Con Đường Âm Nhạc để tưởng niệm Phạm Duy và biểu diễn toàn bộ tác phẩm này.

Ở trên đây tôi đã viết nhiều đến một Phạm Duy một nhà sáng tác nghiêm túc và đã sáng tác những tác phẩm đích thực với ý nghĩa sâu xa.  Nhưng tôi cũng nghĩ rằng chúng ta không nên quên "tính chơi" của ông Phạm Duy.  Chắc ông Nguyễn Xuân Khoát muốn nói đến quan hệ Phạm Duy với phái nữ - một mối quan hệ đa dạng đã để lại cho chúng ta vô số những tình khúc sẽ sống mãi với thời gian.

Chữ "chơi" thường có nghĩa như giải trí hay nghỉ ngơi thì cũng dễ bị coi như lười biếng hay vô tích sự.  Phạm Duy lại là một người sống và làm việc hết mình và suốt đời vì nghệ thuật mình.  Song chữ "chơi" cũng kết hợp với sự gần gũi của người với người, với sự vui chung.  Là thêm một kiểu để loài người được hòa hợp với nhau.  Phạm Duy đã sáng tạo hai thể loại nhạc chơi đặc biệt phải gọi là "thí nghiệm" vì hình như chưa được nhiều nhạc sĩ khác khai thác là các Vỉa Hè CaTục Ca.  Việt Nam cần đến những ca khúc như thế vượt qua cái khuôn khổ thiên nhiên - rừng, gió, mưa, sông / mây trôi và không đề cập đến đời thực của các thành phố.  Tất nhiên chắc phải đợi lâu đến khi các Vỉa Hè CaTục Ca được cấp giấy phép ở xứ Việt.  Nhưng ngôn ngữ dung tục của vỉa hè, các hẻm, các ngõ thuộc văn hóa dân gian của thời đại này mà chỉ dược nghe trong những tác phẩm rap hiện nay.  Phạm Duy một lần nữa là kẻ tiền phong mặc kệ các "đạo đức giả."

Phạm Duy sống cuối đời ở Việt Nam để các ca khúc của ông được cấy lại trong đất phù sa nơi quê hương.  Hiện nay, ai sẽ nuôi trồng các ca khúc của ông?  Nhạc của Phạm Duy chủ yếu còn sống và sẽ sống trong trái tim của mọi người yêu nhạc Việt.  Tình yêu đó được chứng minh qua thị trường âm nhạc.  Về nước Phạm Duy làm một việc rất khôn là bán tác phẩm của mình cho một công ty đủ vốn để đầu tư và đấu tranh cho sự nghiệp ông.  Còn các ca sĩ làm một vai trò rất quan trọng để nuôi trồng vườn âm nhạc này lúc nào họ xin phép sử dụng đến các tác phẩm.  Nhưng chính chúng ta cũng phải lên tiếng cho quyền nghe các tác phẩm của Phạm Duy.  Dù đã xa khuất ông để lại một kho tàng âm thanh sẽ lưu lại mãi với chúng ta.

7 tháng 4, 2012

Phượng yêu (Poinciana Love) - Phạm Duy (1970)

Yêu người (Phượng) như lá đổ chiều đông như mây hồng chưa tím,
Loving her (Poinciana) is like leaves pouring down on a winter evening, like rosy clouds not yet purple
như con chim khóc trong lồng,
like a bird crying in its cage
như cơn giông đêm hè,
like a nocturnal summer storm,
tình ta nức nở canh khuya.
our love sobs at the stroke of midnight

yêu người (Phượng) như suối cuộn rừng sâu,
loving her (Poinciana) is like a stream curling through forests deep
như con tàu say gió,
like a ship enchanted by the breeze
như con dun ngước lên trời,
like an earthworm raising up to view the sky
yêu trăng sao vời vợi làm sao nói được tình tôi.
loving the moon and stars to the utmost, how can I speak of my love?

yêu người yêu phượng yêu hoa đầu mùa,
loving her loving poinciana loving the first flower of the season
yêu mầu rực rỡ yêu em mù lòa,
loving the brilliant colors loving you darling blinds me,
yêu bằng tiếng nói đơn sơ,
loving with simple speech
yêu người (Phượng) yêu cả cơn mơ dụt dè,
loving her (Poinciana) loving the whole timid deep dream
yêu bằng gió núi qua khe gập ghềnh yêu bằng tiếng hát yêu tinh.
loving through mountain winds through rocky crevasses loving through demonic song

yêu người (Phượng) xong chết được ngày mai,
loving her (Phượng) when it's over, I'll die tomorrow
yêu như loài ma quái,
loving like a kind of spectre,
đi theo ai tới chân trời,
following someone to the horizon,
đi không ngơi kêu gào làm sao trốn được tình yêu.
without rest, shrieking, how can one escape love
yêu người yêu có một lần thôi xin yêu dù gian dối
loving her loving just this once please love even if it's false
xin yêu tôi dẫu nghi ngờ trông bơ vơ còn nhiều thì đâu chối bỏ tình yêu.
please love me though there are doubts, looking forlorn still much so I cannot spurn love.

nguồn: Phạm Duy, "Phượng yêu" (Saigon: Suối Đàn, 1970)


Julie Quang giới thiệu bài ca "Phượng yêu" cho hãng dĩa Việt Nam năm 1970

Ngoài chữ đầu tiên (Yêu) và một tên gọi trong dấu ngoặc (Phượng) bộ ca từ này không có chữ hoa nào. Hai chữ Phượng và người có thể thay thế với nhau. Nhưng chữ phượng chỉ xuất hiện một lần ở ngoài các dấu ngoặc ("yêu phượng yêu hoa đầu mùa"). Vậy phượng, Phượng, và người có mối quan hệ chật che trong bài ca này.

Ai yêu phượng, Phượng, và người? Tất nhiên đó là tác giả bài ca. Trong thực tế đó là một đàn ông gần 50 tuổi có gia đình rồi. Nhưng việc sáng tác không hẳn là tự truyện, và cũng có những người ca và nghe bài ca này như là chuyện đời của mình. Điều lạ (với tôi) là chỉ có đàn bà hát bài ca này. Phượng cũng có thể làm tên đàn ông, nhưng đây là một bài ca của "tôi" với "em." Nhưng chắc chắn khi nghe bài ca này đa số mọi người sẽ nghĩ đến người phụ nữ này hát lời kể của một đàn ông về người tình của mình (chắc là phụ nữ).
Người em, người "phái yếu" là đối tượng của bài ca này, song người kể cảm thấy rất bé nhỏ trước người phượng này. Đoạn đầu bài ca có những hình ành buồn - "lá đổ chiều đông" và "chim khóc trong lồng." Đoạn hai thì có những ca từ tỏ ra sự mê ly, sự kinh ngạc - "suối cuộn rừng sâu," "con tàu say gió," "con dun ngước lên trời," và "trăng sao vời vợi."


Giai địêu của hai đoạn đầu này nghe như ngâm thơ theo địêu bốn nhịp. Hai nốt C và F được hát "non" một chút để làm thêm âm sắc. (Nhiều ca sĩ sau này không hát "Phượng yêu" kiểu này).

Đoạn giới thiệu (của đàn ghi ta đánh) có các chùm ba nốt (triplets) nghe như slow rock, nhưng giai điệu thực sự rất ít có các chùm ba nốt. Dù sao đi nữa các ca sĩ vẫn cứ hát bài này như slow rock.

Đoạn tiếp theo (chắc không nên gọi là điệp khúc, chỉ gọi là đoạn B tiếp theo hai đoạn A) có một không khí khác. Giọng thứ đổi thành giọng trưởng, còn giai điệu đoạn này cũng thay đổi thành đều đặn hơn với các nốt đen. Còn nữa cách phối khí nghe như một thánh ca, như có gì thiêng liêng đang xảy ra. Nhưng đây có phải là thánh ca của con "yêu tinh" hát?

"yêu người yêu phượng" - phượng được nhiều tên gọi tiếng Anh như Poinciana, Flamboyant (sặc sỡ) và Flame Tree (cây ngọn lửa). Trong hồi ký Phạm Duy viết rằng "Phượng yêu" là một bài ca mùa hạ - "Vào lúc trời đất ấm áp nhưng lòng mình giá lạnh, tôi soạn Phượng Yêu là để kể lại cuộc tình vừa qua (Hồi ký: Thời phân chia Quốc Cộng (Phạm Duy Cường Musical Productions, 1991), tr. 260).

"Mầu rực rỡ" làm người mùa đông này "mù lòa." Trong đoạn cuối thì như người kể chuyện mất trí tự chủ cũng sẵn sàng chết, "không ngơi," "kêu gào," rồi thành "loài ma quái" vì cuộc tình chói lọi này. "yêu có một lần thôi xin yêu dù gian dối" thì có vẻ như người phượng "yêu tinh tính nữ" Đó là tên một bài ca Phạm Duy khác đã được Julie Quang giới thiệu chắc gần năm 1975.

Trong Hồi Ký Phạm Duy viết về "Phượng yêu": "Tôi cho rằng được yêu người rồi nếu ngày mai phải chết, tôi cũng xin vui lòng nhắm mắt!" (tr. 261). Nghĩa là người phượng có quyền làm người kể chuyện được chết hay sống. Tất nhiên một mối tình kiểu này phải nói là quá đáng. Nhưng có lắm lần gần như mọi người biết yêu có những cảm giác như mình không thể nào sống được nữa nếu không có người mình yêu trong đời. Bị "gian dối" tất nhiên hơn bị "chối bỏ."

27 tháng 2, 2012

Chinh phụ ca (Song of the Warrior's Wife) - Phạm Duy (1945-6)

Từ chàng ra đi, lưng khoác chiến y
Since he left, armor on his back
Và hồn nương bóng quốc kỳ
And soul warmed by the national banner
Nàng ngừng con thoi, có khi nhớ chàng
She pauses at her spindle, sometimes thinks of him
Có muốn gì đâu, lệ thấm tơ vàng
Does she want anything, teardrops soaking into the golden thread

Chàng ngồi trên yên, mơ bóng dáng em
He sits upon his saddle, dreams of her
Mịt mù sau đám khói tên
In dim light behind the massed smoke and arrows
Bâng khuâng mắt nhìn tay kiếm
Sorrowfully his eyes look at his hand with sword
Không sao giấu đôi lệ hiền
Why can't he hide a couple of gentle tears

Từ hồi Thu đi, Đông tới, Xuân về
Since Autumn passed, Winter has come and Spring has gone
Lạnh lùng cơn gió đêm hè
Frigid, the wind of a summer evening
Từng hồi canh tan thấy trăng xế tàn
At each watch she sees the waning moon,
Thao thức phòng loan, một tiếng tơ đàn
Sleepless in her nuptial chamber, sounds the lute

Nhạc ngoài biên cương nghe vắng khúc hoan
The music out at battle resounds in a victory song
Bập bùng ba tiếng trống đêm
It rises, falls, three strokes of the night drum
Không ngưng tiếng rừng xao xuyến
Yet brings no cessation to the noise of the troubled woods
Vang trong tiếng ve kêu rền rền
Echoes with the cicada's drone

Ngày nào bao xa em thấy bay về
One day from afar she sees flying back
Một đàn chim én không nhà
A flock of homeless swallows
Về làn du phong với mây ráng hồng
Returns a dusty breeze with clouds' rosy evening glow
Có tiếng diều trong đậu trước khuê phòng
The clear sound of a kite's whistle perched before the lady's chamber
Rồi nhìn qua song em thấy trước sông
Looking past the grilled window she sees before the river
Ngựa hồng âu yếm bước sang
A rosy horse lovingly stepping across
Trên lưng có chàng trai tráng
On its back a robust lad
Mang theo biết bao nhiêu ngày vàng
Who brings with him many golden days



Hiệp sĩ lưu động kiểu Tây: hiệp sĩ vàng trên con ngựa hồng - nguồn: Capodilista-Codex

Chàng là hiệp sĩ, nhưng không phải là hiệp sĩ lưu động (knight errant). Chàng đi theo quốc kỳ mấy mùa rồi về với nàng. Chàng là anh hùng. Nàng là một phụ nữ tứ đức. Chàng và nàng có âm hưởng với nhau.

Phạm Duy soạn "Chinh phụ ca" lúc mà người Việt mới qua bậc cửa của một thời chiến tranh liên miên kéo dài hơn 40 năm (nếu kể đến chiến tranh ở Kampuchea). Chiến tranh không giống chuyện hiệp sĩ. Nhưng có lẽ các chuyện hiệp sĩ giúp các chiến sĩ tương lai chuẩn bị tinh thần đấu tranh của mình? Hay coi nhẹ cái thực tế của sự khốc liệt của chiến tranh?

Ca từ này viết theo lời kể của một người thứ ba. Vậy khó nói chức năng ca khúc này là thế nào? Để nàng được an ủi? Để nàng được tỏ ra yêu mến chiến sĩ của lòng nàng? Để chàng được ngợi ca? Để ngợi sự vinh hiển của chiến tranh?

Bia "Chinh phụ ca" - Tinh Hoa xuất bản năm 1950

Đây là một bức tranh hoàn mỹ. Mặc dù Phạm Duy vẽ thật đẹp dù xa thực tế. Ca từ này có chất mơ mộng siêu lãng mạn như các phim Trung Quốc, Hàn Quốc hiện nay. Các phim ấy cũng rất đẹp - người đẹp, cảnh đẹp, lý tưởng cao, chiến công anh hùng, tình yêu mặn mà. Hay "Chinh phụ ca" kể một chuyện hư cấu. Tiếng Anh gọi là fairy-tale, tiếng Pháp gọi là conte de fées - nghĩa là chuyện tiên cô.

Như trong nhiều chuyện tiên cô khác chàng được coi như hoàng thân và nàng được coi như công chúa. Tối thiểu thì hai người thuộc giới thượng lưu của thời ấy với khuê phòng và ngựa hồng. Một người bình thường được nghe ca từ này sẽ cảm thấy gắn liền với hình ảnh nàng và chàng này không?

Chuyện tiên cô hiện đại hóa, nàng (ca sĩ Selena Gomez), chàng, ngựa hồng (nguồn: TMZ) - các chuyện hiệp sĩ có chất vĩnh cửu và hoàn cầu

Tất nhiên nói đến "Chinh phụ ca" thì cũng phải nhắc đến Chinh phụ ngâm khúc, nhưng ngoài chủ đề "chinh phụ" và bối cảnh chiến tranh Trung Hoa xưa hai tác phẩm này rất khác nhau. Người kể trong Chinh phụ ngâm khúc là ngôi thứ nhất là người vợ trẻ than van về số phận mình (Thiếp chẳng tưởng ra người chinh phụ - 117) và đòi "giải niềm cay đắng để chàng tỏ hay" (168). Thiếp vừa thấy phiền muộn (Mặt biếng tô, miệng càng biếng nói - 233) vừa khó chịu (để giận quan ở dạ - 337). Thời gian phải xa chồng rất lâu (trải mấy thu - 177) và vất vả (một thân muôi già, dạy trẻ).

So với "thiếp" trong Chinh phụ ngâm khúc thì "nàng" trong "Chinh phụ ca" có đời lý tưởng. Không bị ảm ánh hoài, chỉ "có khi nhớ chàng." Và nàng chỉ phải xa chàng trọn bốn mùa rồi chàng về vẻ vang và còn nguyên vẹn về thân thể và tinh thần.

Giai điệu "Chinh phụ ca" cũng hay và có màu sắc như những ca khúc Văn Cao (như "Buồn tàn thu" hay "Thiên thai" chẳng hạn). Lý do là các bài này chung thang âm ngũ cung có sắc gam thứ. Như nhiều ca khúc tiền chiến khác, ca từ "Chinh phụ ca" hoàn toàn thiếu các lời có dấu hỏi hay dấu ngã. Như bài "Nhớ người thinh binh" vài năm sau, bài ca cũng có đoàn nhạc kết thức với gam trưởng để mô tả sự vui mừng. Văn Ngọc rất hợp lý khi viết rằng những bài ca này "Văng vẳng bên tai, tưởng như còn nghe thấy cả tiếng đàn kìm, đàn đáy, hay tiếng trống, tiếng phách nữa."

12 tháng 9, 2010

Một cành mai (A Plum Branch) - Phạm Duy + Phạm Thiên Thư (1971)

Em bé khóc đòi cha, như mẹ khóc đòi con.
A little one cries calling for its father, like a mother cries calling for her child.
Người chồng khóc người vợ, người yêu khóc người yêu.
Husbands cry for wives, lovers cry for lovers.
Nước mắt vẫn đầy vơi, sinh tử vẫn còn đây!
Tears are still full or dry, life and death are still here!
Đời này qua đời nọ, tử sinh vẫn còn kia
This life passes to another one, life and death are still there
U ù u! U u u u U u u! U u u

Ôi máu đã thành sông, xương người đã thành non
Oh blood has become a river, people's bones a mountain
Hận thù như trời bể, hờn căm vẫn còn nghe.
Hatred like sky and ocean, resentments still heard.
Cái chết vẫn còn kia, sao cuộc sống còn mê?
Death is still there, why does life still excite?
Đòi thù, thì oán đời đời,
Call for malice, then there's resentment forever,
Đền nhau chỉ có chút lệ thôi!
Make compensation for each other there's a few teardrops only!
U ù u! U u u u U u u! U u u

Nước mắt bỗng ngừng trôi, khi người đã nguyện dâng
Tears suddenly stop flowing when people have offered prayers
Thân mình làm đuốc hồng, cho đòng lúa trổ bông.
One's body makes a rosy torch, for young rice blossoms.
Cuộc sống chết nào đây? Đau buồn sẽ đổi thay
Has life died here? Sadness and pain change
Đem mình vào kiếp người, thoát khỏi nỗi tử sinh.
Brought us to a human existence to escape the state of life and death.
Nước mắt bỗng ngừng trôi, khi người đã nguyện dâng
Tears suddenly stop flowing when people have offered prayers
Thân mình làm đuốc hồng, cho đòng lúa trổ bông.
One's body makes a rosy torch, so young rice blossoms.

Cành mai đã rụng rơi, rơi rụng xuống cuộc đời.
The plum branch has fallen, fallen down to life.
Một cành mai rụng rời, làn hương vẫn chẳng phai
The plum branch has fallen, the fragrance still hasn't faded at all
Người không riêng của ai, nhân loại vẫn của người
A person isn't anyone's alone, humanity still belongs to a person
Đặt mình trong dòng đời, tử sinh cũng là vui.
Placing us in life's stream, life and death have their happiness.
Một cành mai, mai mãi, mãi mãi...
A plum branch, always, always
Một cành mai, mai mãi, mãi mãi
A plum branch, always, always
Mãi mãi...
Always


"Một cành mai" lạ Đạo Ca số 5 của Phạm Duy sáng tác năm 1971. Phạm Thiên Thư soạn những lời ở trên. Chắc đây là ca từ, không phải là bài thơ. Các chữ ăn khớp với cấu trúc và giai điệu của Phạm Duy, như vậy tôi nghĩ rằng phải có hai người ngồi hợp tắc với nhau. Ca khúc này được sáng tác 4 năm sau sự qua đời của Nhất Chi Mai.

Cấu trúc của bài ca là A-B-A được chia ra thành các đoạn 4 ô nhịp -

a' a''a'' a' a''a'' a' -- b' b' b' -- a'' a'' a'-kéo dài

Các đoạn a có tám hợp âm kéo dài 2 phách lên thang âm -

F g-thứ a-thứ Bb C d-thứ E A (với nốt 4 là D được lưu [suspended])

Các đoạn a' không có ca từ và chỉ có hai giọng lên thang âm song song quãng bốn tịnh hành. Các đoạn a'' thì có ca từ và giai điệu.

Các đoạn b cũng có 4 ô nhịp với các hợp âm kéo dài 2 phách như sau -

A D G A e-thứ D G A

Mô tiến hợp âm (chord progression) của đoạn a' và a'' đi lên cả 7 cung của thang âm F trưởng rồi ở lại trên cung 7 là âm dẫn E, nhưng E kéo dài 4 nhịp này là một kết (cadence) bắt đắc dĩ V-i của điệu thức A. Chuỗi hợp âm này có thể xem theo hai điệu thức khác nhau:

F trưởng: I-ii-iii-IV-V-vi-VII-iii
a thứ: VI-vii-i-II-III-iv-V-i

Nhưng cả hai điệu thức đều không được ổn định. Một vài nhận xét về tình trạng không ổn này: các thang âm đi lên từ F lên E cũng như tình trạng sisyphus - đẩy hòn đá lên đỉnh, rồi phải bắt đầu thêm từ đâu một lần nữa (và mãi mãi). Sinh tử cũng thế. Nếu đã được đi lên (từ E đến) nốt F thì là như được thoát hẳn. Với tính điệu thức trưởng này cấu trúc hòa âm đặt lên trụ F trưởng / A trưởng - hai chính xác hơn FA / AC#. Cuối bài có kết E-A với chữ "mãi," nhưng vì cách trụ hai hợp âm thì đoàn kết này cũng không ổn hặn.

Đi qua các hợp âm của thang âm cũng là thiếu những mô tiến kết thành (cadence) là một cách để rửa qua cả gam nốt. Nếu các bực của thang âm được một hợp âm thì không có âm chủ nào - không có chỗ nào để đậu.

Mô tiến hợp âm của đoạn b thì gây ra một điệu thức rõ rệt là A - là A mixolydian - A B C# D E F# G A - không có âm dẫn là G#. Mô tiến hợp âm của đoạn b là:

A mixolydian - A-D-G-A-e-D-G-A [I-IV-VII-I-v-IV-VII-I)

Có lẽ điều nổi bật nhất của đoạn này là giai điệu đi song song với chuỗi hợp âm ở trên - không có chất đối vị nào. Còn trong 8 hợp âm có tỉ lệ lớn là hợp âm trưởng.

Nói chung bài ca có tính "trưởng." Mô típ đầu của bài ca là hợp âm F trưởng (A-C-C-F / "Em bé khóc người"). Tiếp theo là hợp âm C trưởng (G-G-E-G-C / "cha, như mẹ khó đòi"). Cuối đoạn a' có mô típ E trưởng (B-E-G# / "tử sinh vẫn"). Hợp âm trưởng cũng gợi lên những cảm tưởng lạc quan, những niềm hy vọng.

Đoạn B bắt đầu với mô típ A trưởng (C#-E-E-A / "Nước mắt bỗng ngừng"). Tiếp theo là mô típ G trưởng (D-B-G-B-G / "trôi, khi người đã nguyện").

Ca từ này tất nhiên có hình ảnh "đuốc." Đuốc của Nhất Chi Mai là: "Thân mình làm đuốc hồng, cho đòng lúa trổ bông." Đuốc của Lê Văn Tám thì: "Bó đuốc sống sáng ngời / Soi đường cho Đội em tiến nhanh." Trong hai trường hợp này vai trò của đuốc làm cho nuôi dưỡng và hướng dẫn lớp trẻ đến sau - "lúa trổ bóng" và "Đội em." Tất nhiên hình ảnh của ca từ Phạm Thiên Thư tinh vị hơn và không có tính cổ vũ. Vai trò của Nhất Chi Mai là nói lên lời cho những người không có giọng nói, là nhắn nhủ cho những người có tâm lòng.

Bài ca này không thiếu những nét sầu. Tiếng khóc, nước mắt này thuộc về chiến tranh và chắc người ta cũng khóc cho sự ra đi của Nhất Chi Mai. Thi sĩ không cho người nghe đắm mình trong nỗi buồn nhưng muốn giúp chúng ta hiểu rằng tình trạng buồn đau thuộc cái gì lớn lao hơn, có ý nghĩa hơn.

"Nước mắt vẫn đầy vơi, sinh tử vẫn còn đây! / Đời này qua đời nọ, tử sinh vẫn còn kia." Phạm Thiên Thư viết về ca từ này về chiến tranh, nhưng ý ông ở đây là triết lý Phật giáo viết tắt. Thời hòa bình thì kiếp người vẫn thế. Nhưng muốn bớt đi đau khổ kiếp người thì mọi người nên sống khoan dung, đừng căm thù. "Đòi thù, thì oán đời đời, / Đền nhau chỉ có chút lệ thôi!" Ý chính của bài này là sự tha thứ. Nếu mọi người có khả năng tha thứ và "đền nhau" thì hết chiến tranh. Đây không phải là lối "oanh liệt." Song cách làm của Nhất Chi Mai là lối nhân đạo.

Đoạn cuối của bài này thì viết về cá nhân Nhất Chi Mai - một cành mai - là tưởng niệm Nhất Chi Mai: "Một cành mai rụng rời, làn hương vẫn chẳng phai / Người không riêng của ai, nhân loại vẫn của người." Nhất Chi Mai làm việc cá nhân, nhưng làm cho cái chung, cho nhân loại. Vì vậy hương hoa này không phai - sẽ thành vĩ đại.



Thái Thanh trình diễn ở trên không y hệt bản nhạc ca khúc "Một cành hoa" (có lặp lại một số từ ở đoạn B, và nhiều lần hợp âm A với nốt D được lưu thành A trưởng).

30 tháng 6, 2010

Khối tình Trương Chi (Trương Chi's Multifold Love) - Phạm Duy (1945)

1.
Đêm năm xưa khi cung đàn lên tơ
One long ago evening when the lute stretched its silk
Hoa lá quên giờ tàn
Leaves, flowers had no memory of their decay
Mây trắng bay tìm đàn
White clouds drifted in search of their kind
Hồn người thổn thức trong phòng loan
A soul sobbed in a woman's chamber

Đêm năm xưa nghe cung đàn gây mơ
One long ago evening listening to a dreamy lute
Âu yếm nâng tà quạt
Lovingly she raises the slanting fan
Hồn gió đưa về thuyền
A soul sent by the wind back to the boat
Tưởng người trên sóng du thần tiên.
Imagining the person on the moving waves an immortal

Êm êm êm dần lan
Calm, calm, calm it slowly spreads
Cung Nam Thương mờ vang.
The tones of Southern Regrets faintly echo
Em yêu ai bờ sông nhớ thương ai trong đàn
You're in love with someone at the riverside, love someone in that playing

Xa xa xa rồi tan
Far, far, far, then it's gone
Cung Nam Ai thở than.
The tones of Southern Grief sigh
Ai thương em lầu buồn mỗi lúc khuya tàn canh
Does someone pity me in my sad palace every time midnight passes to daybreak

Rứt khúc đàn, lòng em thấy đê mê.
Plucking the lute, my heart feels ecstatic
Ôi tiếng đàn, lời không mong ước thề
Oh the lute playing, words with no desire for a vow
Đã thấy tàn, đời không gió xuân về
Having felt it end, a life of no returning spring wind
Khi tiếng ai dần xa.
As sound of someone getting further away

Tương tư một khối u sầu
Lovesick, a multifold sadness
Đợi chờ trăng lên để tan hết thương đau
Awaiting the moonrise for the pain to end
Mi em nước mắt hoen mầu
Your brow, stained by tears
Tóc chẩy ngàn hàng môi thắm còn đây.
Flowing hair, thousands of rich lips are still there.

Đêm năm xưa tương tư người hò khoan
On a night long ago, lovesick for the river's singer
Ôm ấp bao mộng vàng
Holding tightly to so many golden dreams
Cho tới khi gặp chàng
Until she met him
Thì đành tan vỡ câu chờ mong.
Then she had to accept the shattering of those expectant words

Đêm năm xưa trên con thuyền lẻ loi
One long ago evening upon a solitary boat
Khi chót yêu người rồi
When you had already loved him
Xa cách nhau vì đời
Apart because of life
Tủi hờn duyên kiếp bao giờ nguôi.
Fate's humiliation, will it ever subside?

2.
Đêm năm xưa ôm mối tình dở dang
That night long ago holding tight to a failed love
Chôn đáy sông hồn cầm
At the river bottom the lute's soul
Ai chết đêm nguyệt rằm
Who died on the full moon night
Nợ tình còn đó chưa đền xong.
Love's debt remaining, not yet rewarded?

Đêm năm xưa chưa nguôi lòng yêu ai
That night long ago someone's love not yet assuaged
Duyên kiếp trong cuộc đời
A love fated in life
Đem xuống nơi tuyền đài
Taken down into the grave
Để thành ngọc đá mong chờ ai.
To become a precious stone awaiting someone

Êm êm êm dần trôi
Calm, calm, calm drift past
Bao năm qua dần phai
Many years slowly fade
Ai xui nên ngọc kia vấn vương nơi lâu đài
Who was the cause of that stone lingering in the castle
Tay dâng lên một khay
An arm lifts a tray
Tim Trương Chi là đây
Trương Chi's heart is there
Trong đêm khuya tiệc trà vui bóng gia đình ai.
At a gay late night tea party with someone's family.

Rót nước vào, chợt thấy bóng ngưu lang
Pouring the drinks down, you suddenly see the celestial herder
Quanh chén trà, thuyền trôi theo tiếng đàn
Around the teacups, boats flow along with the lute's sounds
Có tiếng người vọng câu hát u buồn
There's the sound of someone's sad song resounding
Ai oán câu hò khoan.
Plaintive, the heave-ho song.

Nâng niu một chén âm hồn
Caress a cup with the man's soul
Mộng tình trăm năm nằm trong đáy ly gương.
Dream of a life-long love lying at the bottom, reflected in a wine glass
Khi xưa duyên chót phũ phàng
Long ago when fated love came to its violent end
Thiếp trả nợ chàng, nước mắt này dâng
The concubine paid her debt to him, these tears arose.

Đêm năm xưa yêu dấu người xa xăm
That night long ago loving him far away
Nâng chén trong lầu buồn
Raising a cup in the sad palace
Thương nhớ nơi ngàn trùng
Longing for that far away place
Lệ sầu rơi xuống câu hò khoan.
Melancholy tears fall down with the heave-ho song

Ôi duyên kia ai đã trả cho ai
Oh that fate love, who was you paid it back to who?
Cho mắt rơi lệ rồi
So eyes have dripped tears
Cho chén tan thành lời
So this cup dissolves into words
Để thành bài hát ru lòng tôi
Into a song to lull my heart

(Huế - 1945)

Trong cách nhìn của Phạm Duy sự tích Trương Chi thành một chuyện căn nguyên. Đàn / hay tơ đàn qua tay của Trương Chi tạo nên một không khí (cũng đầy ma lực như trong bài ca Văn Cao).

Có bốn bực chữ "hồn" trong ca khúc này: 1) Hồn người thổn thức; 2) Hồn gió đưa về thuyền; 3) Chôn đáy sông hồn cầm; 4) Nâng niu một chén âm hồn. Hồn đi theo quá trình từ người theo gió vào cầm (đàn) rồi thành âm hồn. Trong cuộc tiến trình này nhạc và tình (và nỗi buồn) đi theo các hiện tượng của hồn thành khối, thành vòng không kết.

Chuyện này xây ra trong một thuở chưa có thời gian - thời Genesis: "Hoa lá quên giờ tàn."

"Hồn người thổn thức trong phòng loan" - nàng / thiếp có phải buồn vì ngồi một mình trong phòng hay vì nhạc của Trương Chi làm cho nàng / thiếp có nhận thức thấy buồn? Có phải là nhạc là một hoa quả cấm? (như nhạc vàng?).

Nhưng âm nhạc / Trương Chi được khuyến khích do tình thương của nàng / thiếp: "Hồn gió đưa về thuyền." Nhưng huyền thoại này cũng đến với thời của chúng ta - nhạc / hồn của Trương Chi (qua sự nuôi dưỡng của nàng / thiếp) được hiện thân bằng một chén. Nói cụ thể hơn bằng một chén trà - chén trà tiêu biểu cho sự sum họp ấm áp của gia đình, của đời sống chung, của ân tình chung.

Có đầy đủ ý buồn trong ca khúc này: "lầu buồn," "câu hát u buồn," "Tương tư một khối u sầu." Nhưng rút cuộc căn nguyên buồn này được làm cho giúp vui trong một "đêm khuya tiệc trà vui bóng gia đình ai." Nghĩa là nhạc buồn không thành buồn. Nhạc vàng hóa vàng?

Tôi không thích những ca khúc kiểu 3 nhịp chậm cho lắm, vậy giai điệu của bài "Trương Chi" của Văn Cao hợp với tôi nhiều hơn. Nhưng tôi nghĩ rằng thông điệp của Phạm Duy hay hơn.

Bài ca "Khối tình Trương Chi" cũng có chất ca Huế như "Trương Chi." Chắc bài ca của Văn Cao cũng là cảm hứng cho Phạm Duy.

Nghe Mai Hương bộ lời 1 của bài ca "Khối tình Trương Chi."