La fanfare de 2e T.T. a joué jeudi de 18 à 19 heures, au square du Théâtre. Une vingtaine annamites et 4 ou 5 militaires représentaient le public Haiphonais. Les musiciens paraissient peu enchantés de jouer devant un public aussi clairsemé.
Dàn nhạc kèn đoàn 2 Lính Tập Đông Kinh đã biểu diễn đêm thứ năm từ 6 đến 7 giờ tại Quảng tường Nhà hất. Vai chục dân An Nam và dăm bốn lính đại diện cho công chúng Hải Phòng. Các nhạc công không có vẻ thích thú chơi nhạc trước số khán giả ít ỏi này.
nguồn: France-Indochine 4 mars 1922.
Cách đây 100 năm người Việt thổi kèn đồng cho khán giả Việt nghe ở trung tâm thành phố Hải Phòng. Số người đến nghe cũng ít. Chắc trời đầu tháng 3 ở Hải Phòng cũng rét.
Anh nằm xuống sau một lần đã đến đây
You’ve lain down after once coming here
Đã vui chơi trong cuộc đời nầy
Enjoying yourself in this life
Đã bay cao trong vòm trời đầy
Flying high in the firmament
Rồi nằm xuống không bạn bè không có ai
Then you lay down, without a friend, no one
Không có ai từng ngày
No one every day
Không có ai đời đời
No one in this life or the next
Ru anh ngủ vùi mùa mưa tới To lull you to sleep, buried in the coming monsoon
Trong nghĩa trang này có loài chim thôi
In this cemetery with only birds
Anh nằm xuống cho hận thù vào lãng quên
You’ve lain down so that hatred arrives at oblivion
Tiễn đưa nhau trong một ngày buồn It leads along on a sad day
Đất ôm anh đưa về cội nguồn
The earth embraces you taking you back to the source
Rồi từ đó trong trời rộng đã vắng anh
And since then the vast skies know of your absence
Như cánh chim bỏ rừng
Like a bird on the wing giving up the forest
Như trái tim bỏ tình
Like a heart giving up on love
Nơi đây một lần nhìn anh đến
Here, once, seeing you come
Những xót xa đành nói cùng hư không
This pain must be spoken with the void
Bạn bè còn đó anh biết không anh
Your friends remain, brother, do you know?
Người tình còn đó anh nhớ không anh Your lover remains, brother, do you remember? Vườn cỏ còn xanh The grassy garden is still green Mặt trời còn lên The sun still ascends Khi bóng anh như cánh chim chìm xuống As your shadow like a bird on the wing sinks lower
Vùng trời nào đó anh đã bay qua What skies have you flown past? Chỉ còn lại đây những sáng bao la There's only just those vast mornings Người tình rồi quên Lovers, they’re forgotten Bạn bè rồi xa Friends, they’re far Ôi tháng năm những dấu chân người cũng bụi mờ Oh, like months and years, man’s footsteps also fade to dust
Anh nằm xuống như một lần vào viễn du You’ve lain down like embarking on a voyage Đứa con xưa đã tìm về nhà The child of long ago who looked for his home Đất hoang vu khép lại hẹn hò A wilderness that has shut away a promise Người thành phố trong một ngày đã nhắc tên City people in a day have recalling a name Những sớm mai lửa đạn Mornings of fire and bullets Những máu xương chập chùng Blood and bones piling up Xin cho một người vừa nằm xuống I ask for someone who has just lain down Thấy bóng thiên đường cuối trời thênh thang. To see paradise's shadow at the vast sky’s end.
nguồn: Trịnh Công Sơn, Lời đất đá cũ (Sài Gòn: Nhân Bản, 1973)
Nguyễn Đắc Xuân mô tải bài ca "Cho một người nằm xuống" là "nhạc ca ngợi địch" (Trịnh Công Sơn: Có một thời như thế, (TPHCM: Nxb Văn Học, 2003, tr. 99). Ông nhắc đến lời Hoàng Phủ Ngọc Tường -
Hồi ở trên rừng khi nghê Trịnh Công Sơn sáng tác bài Cho một người nằm xuống thương tiếc Đại tá không quân Sài Gòn Lưu Kim Cương tôi rất tiếc cho Sơn. Sau này được biết, trong những năm tháng Sơn trốn lính, Lưu Kim Cương đã tận tình che chở cho Sơn, chính vì cái ơn ấy Sơn đã viết bài ấy. Ta nên thông cảm cho hoàn cảnh đặc biệt của một nghệ sĩ (tr. 100).
Có điều chắc chắn là Trịnh Công Sơn không coi Lưu Kim Cương là kẻ địch. Hiện nay bài ca hình như là một bài dân ca cho các dàn kèn đồng đám ma với tên gọi "Anh nằm xuống."
Khán giả Annam tuy không có trật tự như các báo đã nói, song thật là dễ dài: tuồng hát chỉ dỡ cách mấy mà diễn đi diễn lại đến mấy chúc lần là cũng vẫn có người đi coi! Vì thế, mấy chủ gánh họ không cần tuồng mới, hay sặp đặt, chỉnh đốn chi chi cả.
Tranh cảnh cũ, tuồng cũ mấy năm cũng mặc, cứ hát là có thể thâu tiền!
Tối thứ bảy, về cuộc thi khiêu vũ của nhà hàng Tabarin tổ chức lúc 11 giờ, kết-quả cô Viollette Nguyễn-Thị-Lợi và ông Faraut đươc giải nhứt về điệu tango. Cô Lý Lỹ (Tàu) và ông Bernard được giải nhứt về điệu valse. Về điệu rumba, nhiều cặp dự thi, cô Xuân-Hương và ông Carron chiếm giải-nhứt về điệu baston nửa. Cô Hoa và ông Cương được giãi nhì.
Ai đi qua đầu phố Hàng Bài thì cũng nghe vọng ra một điệu nhạc "bờ-lu-dơ", "xít-uynh", "tăng-gô"... Người ta tưởng là nơi khiêu vũ, nhưng không, đó chỉ là một hiệu giải khát.
Có anh bạn từ trong căn nhà nhỏ ấy bước ra, xoa tay khoan khoái bảo: "Thật là sống lại một ngày"! Câu nói đó làm tôi suy nghĩ.
Tôi liền hỏi bạn: nghe làm gì điệu nhạc ấy. Anh tỏ vẻ không bằng lòng. Nhưng rồi anh bảo: Tại chủ hiệu cho mình nghe chứ mình cũng chẳng thú lắm đâu.
Cũng có người góp ý kiến với chủ hiệu nên nua những đĩa hát có điệu nhạc lành mạnh hơn. Chủ hiệu đồng ý và cám ơn, nhưng rồi thả một câu "thòng": Không cho chạy loại đĩa này thì khác họ đòi.
Thế là: không ai muốn cả! Nhưng tại sao máy hát cứ chạy và từ các đĩa hát cũ lại vang lên các điệu nhạc giật gân gợi lại những ngày u am?
nguồn: Độc Lập 6 tháng 7 1957
Uống giải khát phố Hàng Bài có ưu điểm là được nghe nhạc blues, nhạc twist (xít-uynh?), và nhạc tango. Đúng là một nơi khiêu vũ - và lúc bấy giờ khiêu vũ không bị cấm. Thực ra sau năm 1954 không nhạc nào bị cấm. Dư luận, như bài dư luận ở trên, giải quyết hết. Điều nổi bật là năm 1957 người Hà Nội còn giữ và nghe đĩa hát cũ.
[Có bạn comment là chắc xít-uynh có nghĩa là "swing." Nói thế cũng hợp lý]
Vichy, 8-8 (ofi).-- Thứ hai 9, thứ ba 10 và thứ tư 11 Aout, đúng 1 giờ 15 trưa và 3 giờ chiều vô-tuyến-điện "Voix de la France" sẽ truyền-thanh bản Quốc-ca của nước Việt-Nam, do giàng nhạc của đội Hộ-vệ quân của Quốc-trưởng Pháp tấu nhạc.
nguồn: Dân Báo 12 tháng 8 1943
Một thời Pháp thuộc, một thời đại chiến, một thời bị Nhật tạm chiếm thì có những việc lạ xây ra. Nước Pháp chế độ Vichy gần như một nhà nước bù nhìn làm chính phủ bề ngoại dưới sự thống trị của Đức và Nhật. Đối với nước Pháp xứ Annam tương tự như thế. Như vậy nước Pháp cho "Quốc ca của nước Việt Nam" trên làn sóng đài phát thanh ở Pháp chỉ là một cử chi nhỏ để làm cho dân An nam mít cảm thấy hãnh diện. Bài Quốc ca ấy là bản "Đăng Đàn Cung" chứ phải một hành khúc oai vệ.
Đối với Việt Nam, tội ác lớn nhất của đế quốc Mỹ là xâm lược! Âm mưu xâm lược theo chủ nghĩa thực dân mới rất tinh vi và tế nhị. Để cho dấu xâm lược về mặt chính trị, người Mỹ nói rằng họ tới đây vì độc lập tự do, vì nhân phẩm của người Việt Nam …
Muốn xâm lược theo kiểu thực dân mới thì phải có những thành phần bán nước với vai trò bù nhìn để cộng tác. Cho nên nền giáo dục cũ tạo ra lớp người nô lệ và ngụy trang bằng chống cộng. Nền giáo dục đó nếu tóm lại trong vài chữ là một nền giáo dục nô lệ hóa.
…
Cái nhân bản không phải họ lấy con người làm gốc, không phải là tôn trọng nhân phẩm của con người mà là tôn thờ đồng tiền, bán bằng cấp, không có tình thầy trò…
…
Nhưng bằng những cách tuyên truyền lồng trong chương trình giáo dục làm cho anh cũng sợ cộng sản, rồi vừa chống Mỹ (trên hình thức) vừa chống cộng và muốn làm cách mạng, một kiểu “cách mạng xã hội” không cộng sản. Như vậy, không theo Mỹ, không theo cộng sản nhưng sống giữa thành thị với sự quyến rũ hằng ngày (do Mỹ tạo ra) dần dần anh sa ngã, trụy lạc, hưởng thụ mà như thế người đó tưởng rằng mình tách khỏi chính trị. Chúng còn tạo ra một lớp người gọi là “lương thiện” ngoan ngoãn tôn trọng luật lệ, không vi phạm, không chống đối, không làm gì hết chỉ biết chu toàn bổn phận và người đó cho rằng như vậy là yêu nước rồi chứ có biết đâu mình yêu nước bên cạnh người Mỹ như kiểu Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh ngày xưa yêu nước nhưng yêu nước bên cạnh người Pháp.
For Vietnam, the greatest imperialist crime was invasion! Their invasion scheme followed a new colonialism that was very sophisticated and subtle. To leave an impression of their invasion in politics, Americans say that they came here for independence and freedom, for the dignity of the Vietnamese people.
Wanting to invading in the manner of neo-colonialists, there must be those who would sell out the country in the role of puppets to collaborate. As a result the old educational system created a class of slaves disguised in their argument of opposing communism.
...
Their humanism doesn't take the person as a basis, they do not respect human dignity but instead respect money, selling credentials, without student-teacher relationships...
...
But through this closed-off propaganda in the educational program that makes him fear communism, at the same time both oppose the Americans (in outward appearance) and the oppose communism and want to make a revolution, a kind of "social revolution" that isn't communist. So not following the Americans, not following the communism but living in the city with everyday temptations (created by America), he gradually became corrupted and debauched, enjoying it all but that person imagined that they were separated from politics. They also created a class of people said to have had a "conscience" who obediently followed the laws, didn't break them, didn't oppose them, didn't do anything at all, just safely assumed obligations and that person claimed that this is patriotism not knowing that a patriotism side by side with the Americans is like the way Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh long ago were patriotic, but patriotic side by side with the French.
nguồn: Lưu Trọng Văn, "“Nền giáo dục cũ phục vụ âm mưu của đế quốc Mỹ và đào tạo một lớp người tách khỏi dân tộc,” Giải phóng (bộ mới) #59 27 tháng 9 1975.
Hiện nay cho rằng các văn hào như Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh thiếu tính ái quốc rất lỗi thời. Còn cho các nhà văn hóa thời Việt Nam Cộng Hòa thiếu tính ái quốc cũng thế.