29 tháng 12, 2023

Cô thợ mới (New Girl Laborers) - Ngô Quân Miện (1958)

Cô gái mười bảy tuổi
A girl now seventeen
Đi phục vụ công trường
Going to serve at the construction site
Lớp học vừa tan buổi
Class has just let out
Bước vào đời công nhân
Stepping into the worker's life

Gánh đất đỏ
Shoulder some red earth
Hai bành chân cháy bỏng
Two legs aflame
Lần đầu tiên trong đời
For the first time in her life
Hiểu nghĩa bài lao động
Understanding the lessons of labor

Cuối tháng lĩnh tiền lương
Month's end paid her wages
Bàn tay run rẩy quá
Hands quite a-tremble
Như buổi mới đi trường
Like first going to school
Được thầy chê chữ dở
Receiving the teacher's criticism for bad writing

Đêm nằm những ước mơ:
Night, lying down dreaming:
--"Bao giờ thành thợ máy?"
"When will I be a mechanic?"
Một buổi sớm tinh mơ
One morning at dreaming at daybreak
Bạn đến giường lay dậy
A friend comes to shake her awake

Được chiếc mũ lưỡi trai
Given a cap with a bill 
Chiếc quần xanh "yếm dãi"
Pair of blue overalls
Cô bé nhảy lên cười
She jumps up laughing
Diện ngay quần áo mới
Showing off her new clothes

Cứ tưởng giữa mùa xuân
Just imagine in spring
Mặc áo quần đi hội
Wearing these clothes to the festival
--Có anh thợ nhìn sang
--There's a boy laborer looking across
Thấy lòng xao động mãi...
His heart ever astir.

12-58
Ngô Quân Miện

nguồn: Độc Lập số đặc biệt 28 tháng 1 1959

20 tháng 12, 2023

La Musique (Âm nhạc) - (1912)

Les concerts de la musique militaire sont fréquentés par un certain nombre de mélomanes assidus à toutes les auditions.

Các buổi hòa nhạc của dàn nhạc lính thường xuyên có một số người mê nhạc chăm chỉ tham dự nghe.

Le vendredi soir, la musique joue dans le kiosque du Cercle des Officiers et de nombreux concitoyens se rendent sur le boulevard Norodom et la partie de la place de la Cathédrale avoisinant le kiosque.

Tối thứ sáu, âm nhạc biểu diễn ở ki-ốt Cậu lạc bộ Sĩ quan [47 đường Lê Duẩn] và nhiều đồng bào đi đến Đại lộ Norodom [Lê Duẩn] và một phần của Quảng trường Nhà Thờ gần bên cái ki-ốt.

Or, il arrive toujours que pendant l'exécution des morceaux des véhicules de toute nature traversant la foule et notamment les voitures malabares qui non seulement dérangent les auditeurs, mais empêchent complètement ceux-ci d'entendre la musique.

Tuy nhiên, một điều luôn luôn xảy ra khi thực hiện các bản nhạc là các loại xe chạy qua đám đông, đặc biệt là xe rác, không chỉ làm phiền người nghe mà còn cản trở hoàn toàn việc thưởng thức âm nhạc.

Il est d'ailleurs très facile de passer sur le côté gauche de la Cathédrale pour gagner la rue Blancsubé, ou bien de passer par la rue Paul-Blanchy.

Sẽ cũng dễ dàng nếu chúng đi về phía bên trái của Nhà Thờ để đi đến rue Blancsubé [Phạm Ngọc Thạch] hoặc đi qua đường Paul-Blanchy [Hai Bà Trưng].
 
Un agent devant la Poste et un autre devant l'entrée du Cercle suffiraient pour faire neutraliser les environs du kiosque les vendredis soirs.

Một nhân viên đứng trước Bưu điện và một nhân viên khác trước lối vào chỗ Cậu lạc bộ sẽ đủ để trung hòa hóa vùng xung quanh cái ki-ốt các tối thứ sáu.

Les amateurs de musique seraient reconnaissants à M. la Maire de vouloir bien prendre cette mesure.

Những người thưởng âm nhạc sẽ biết ơn ngài Thị trưởng nếu sẵn sàng thực hiện biện pháp này.


nguồn: Le Cri de Saigon 6 septembre 1912.

4 tháng 12, 2023

15 năm viết blog

 Tôi mới nhận thức là tôi đã viết blog này đã 15 năm rồi.  Blog của xuất phát từ công động Yahoo 360 ngày xưa.  Tôi đã viết một số bài cho Yahoo 360 rồi sau một thời gian chuyển sang cơ sở "blogger" của Google.

Trong khoảng thời gian này tôi đã viết 1,389 bài và từng có gần 1,300,000 lượt đoc.  Dưới đây là các bài viết được xem nhiều nhất (không thể bảo đảm là được đọc).  Thuở viết về nhạc rap Việt tôi đã được rất đồng độc giả.

Ê-mi-ly, con (Emily, Child) - Tố Hữu (1965)


Đi bụi (Gone Street) - Nah (2012)


Phác thảo về điệu Boston


Buddha - Wowy (2012)


Việt-Nam - Trung-Hoa (Vietnam-China) - Đỗ Nhuận (1964?)


Danh mục 134 bài hát của Trịnh Công Sơn trước năm 1975 không hoặc chưa được phép phổ biến ở Việt Nam


Anh không đòi quà (I Wouldn't Ask For the Gifts) - Only C + Karik (2013)


Phố ta (Our Lane) - Lưu Quang Vũ (1970)


Qua cơn mê (Past the Madness) - Trần Trịnh & Nhật Ngân (1972?)


Toán Xồm - Lộc Vàng

3 tháng 12, 2023

phường bát âm tây (1926) - Henri Cucheronsset

La musique annamite a été influencée par la musique européenne; les instruments et les mélodies d'Europe ont un vif succès; dans toutes les provinces des fanfares s'organisent. Les musiques des régiments de tirailleurs et de la garde indigène sont pour ces fanfares de véritables écoles. En même temps l'étude de la musique national est reprise et l'on s'attache à perfectionner les instruments traditionnels.

Âm-nhạc An-nam cũng đã chịu một phần ảnh-hưởng to của âm-nhạc tây. Những đồ âm-nhạc và đồ thanh-âm của âm nhạc Âu-châu được công chúng hoan-nghênh. Vậy nên tỉnh nào cũng thấy dựng ra phường bát-âm Tây. Những âm-nhạc của đội lính khố đỏ và của đội lính khố xanh thật là những cái trường học của các phường bát âm ấy vậy. Người bản xứ lại bắt đầu nghiến cứu lại âm nhạc trong nước và tìm cách làm cho hoàn toàn những đồ âm nhạc cổ. [bản dịch của Vũ-Công-Nghi 1926]

Âm nhạc An nam cũng được chịu ảnh hưởng to của âm nhạc tây. Những nhạc cụ và giai điệu của  Âu châu được nhanh chóng hoan nghênh. Tỉnh nào cũng tổ chức những phường bát âm Tây. Ban nhạc của đội lính khổ đỏ và của đội lính khổ xanh thật là những cái trường học của các phường bát âm ấy vậy. Cùng lúc việc nghiến cứu quốc nhạc trong nước và được kế tiếp và hoàn thiện các nhạc cụ truyền thống. [bản dịch tây bụi]

Cucheronsset, Henri, L'Indochine d'hier et d'aujourd'hui (Hanoi: Éditions de L'Éveil Économique, 1926).

22 tháng 11, 2023

Hà Nội đêm trở gió (Hanoi Night's Changing Wind) - Trọng Đài + Chu Lai (1993)

Hà Nội ơi tươi xanh màu áo học trò
Hanoi, green and fresh, the color of student's blouses
Những con đường thân quen còn đó.
Dear familiar streets are still there.
Tiếng rao vang đâu đây nghe động trời đêm
Vendors hawking their wares echo, move the evening skies
Hồng Hà ơi!
Oh Red River!  
Buồm ai khe khẽ thuyền về
Someone's sails quietly bringing the ship back
Cành me thì thầm gục đầu vào dĩ vãng tiếng ve kêu râm ran suốt đêm hè
Whispering tamarind branches bend down into the past, buzzing cicadas ring out throughout the summer night
Giọng dân ca sao gợi nhắc hồ Gươm.
The sound of a folk melody, how it makes me recall Sword Lake

Hà nội ơi!
Oh Hanoi!
Xanh xanh liễu rủ mặt hồ Gươm.
The green of willows hanging at Sword Lake's 
Cô đơn sấu rụng ngoài ngõ vắng
Lonely, the dragonplum tree shakes out in the empty alleyway
Con sóng nào vẫn vỗ về vào đam mê.
What waves still console me into a reverie
Hà nội ơi! Hà nội ơi!
Oh Hanoi!

Ta nhớ không quên những tháng năm qua một nét riêng tư gợi nhắc cho ai là nhắc đến những kỷ niệm đã qua
I remember, can't forget, all the months and years from a single feature as a reminder of someone, a reminiscence of memories that have past

Hà Nội ơi! Nhớ về mùa thu tháng Mười áo học trò xanh những hàng me
Oh Hanoi! Remember autumn Octobers, student's blouses, rows of tamarinds
Hà Nội ơi! Ta nhớ không quên
Oh Hanoi! I remember, cannot forget
Hà Nội ơi! Trong trái tim ta
Oh Hanoi! In our hearts

Chiều mùa thu gió về rộng trên phố phường.
Autumn afternoons, winds return widely across the streets
Nắng vàng hồng tươi những nụ cười
Golden sunshine brings a blush to those smiles
Hà Nội ơi! Ta nhớ không quên
Oh Hanoi! We remember, don't forget
Hà Nội ơi! Trong trái tim ta
Oh Hanoi! In our hearts


nguồn: Âm Nhạc No. 4-5-6/1997


Mỹ Linh ca "Hà Nội đêm trở gió."

14 tháng 11, 2023

5 buổi sáng không có trong sự thật (five mornings that in truth haven't been) - Văn Cao (1960)

Những mái nhà ủ những cánh chim đêm
Ủ những giấc mơ dưới trời cao lồng lộng

Roofs covering the night bird's wings
Covering dreams under the tall, vast sky


SÁNG THỨ I
THE FIRST MORNING

Một sáng ngủ dậy
Upon awakening one morning
Không còn một bóng người
Not one soul left
Im lặng
Silence
Những hồ nước sâu thăm thẳm
Lake waters of profound depth
Mặt đất đỏ màu gạch nung
The earth's red surface, the color baked bricks
Như một quả núi lửa
Like a volcano's surface
Anh đi tìm em
I search for you
Tìm dấu vết của những con đường
Search for traces of the roads
Chúng ta thường đi lại
We frequented
Giữa mênh mông tôi gọi em mãi mãi
Within this vastness I call you, eternally
Thế kỷ chúng ta
Our century
dừng lại nơi đây
Stopped here, this place
Em ở đâu?
Where are you?
Thế kỷ chúng ta còn đang tiếp tục
Our century is continuing
Trên trái đất này hay dừng lại nơi này
Upon this earth or stops here, this place
Giữa mênh mông tôi gọi em mãi mãi
In this vastness I call for you, eternally

SÁNG THỨ 2
THE SECOND MORNING

Buổi sáng nay không nghe tiếng chim hót
This morning I can't hear singing birds
Buổi sáng không có trong sự thực
A morning that in truth hasn't been
Tôi bước đi không thấy tiếng chân đi và thành phố theo tôi cùng im lặng
I step, not hearing my own footfall and the city follows me in silence
Tất cả những con người
All these people
Chỉ thấy mắt đen lay láy
I only see shiny black eyes
Cả tiếng xe chạy không thành tiếng
Even the vehicles driving past don't make a sound
Tại sao, tại sao
Why? why?
Không ai nhìn miệng tôi đang gào thét không ra tiếng
No one sees my mouth, screaming, but no sound comes out
Trong kinh hoảng tôi chạy điên dại
In my terror I run wildly
Một mình
Alone
Giữa thành phố mọi người im lặng
In this town where everyone is silent
Tại sao, tại sao không tiếng nói
Why? why are there are no voices
Không một tiếng động, không còn sự sống
Nor sound of movement, no life
Một thành phố sa mạc không nghe gió thổi
A desert town where you can't hear the wind blow
Những hình người như bị đẩy
Images of people, it's like they're being pushed
Đi qua lại
Passing back and forth
Hình như cuộc sống nơi đây đã bị đày trong im lặng.
It seems that this place has been saturated in silence

SÁNG THỨ 3
THE THIRD MORNING

Buổi sáng nay không phải mình thức dậy
This morning it wasn't I who awoke
Một người nào trong tôi đang thở
There's someone inside of me is breathing
Trước mắt tôi buồn nữa ngày nữa đêm len lỏi
In front of me
Nửa phố mặt trăng nửa phố mặt trời
The street is half moonlight, half daylight
Từ khi ấy chúng tôi hai người suy nghĩ
From then, we, the two of us think
Hai kẻ thù nhau
Two parties bearing malice toward one another
Hai thái cực tâm hồn
Two extremes of being
Hai người ấy trong một người chịu dựng
These two people are inside one person who must withstand
Mưu hại lẫn nhau
Their schemes of harm toward each other
Vu cáo rình mò nguyền rủa chịu dựng
Slanders, lying in wait, curses, endures
Không biết ngày đêm không biết thật hư
Not knowing night nor day, not knowing truth nor lies
Từ phút ấy tôi không còn thật nữa.
From that minute I'm no longer real.

SÁNG THỨ 4
THE FOURTH MORNING

Buổi sáng nay phố phường như mở hội
This morning, the neighborhood is like a festival
Một con người đeo mặt nạ đi chơi
A person wearing a mask goes out for fun
Cuối đời bên ngoài đang nhảy múa vui lên cánh non
Outside life is performing its dance, happily raising its young branches
Lá bàng trên phố dài màu ngọc
Terminalia leaves, along the long road, gem colored
Xuân tháng hai
February spring
Các hàng rượu bên đường
The roadside wineshop
Tơ lụa pha lê, hoa giẫy
Crystalline silk, bougainvillea
Những mặt nạ gặp nhau chào hỏi
Masks meet and greet
Bọt bia
Beer foam
Những em bé mùa xuân máu lên da thịt
Springtime kids blood rising becoming flesh
Ngồi đập nút chai làm tiền bạc chơi xuân
Sitting, pounding the cork from the bottle for pocket change to spend this spring
Mở tròn mắt nhìn
Eyes open wide, looking
Kinh ngạc
Astonished
Họ vui làm sao
They're so happy
Ô kìa
Hey there!
Nước mắt mồ hôi
Tears and sweat
Sao chảy ra trên từng mặt nạ con người
Why do they flow upon each mask?
Vội vàng lau mồ hồi và nước mắt
Hurriedly I wipe away the sweat and tears
Trên mặt nạ giấy bồi.
On the papier maché masks.

SÁNG THỨ 5
THE FIFTH MORNING

Trong gian phòng trong suốt như thủy tinh
In a chamber, entirely crystalline
Những cánh cửa đều khóa chất
Doors, all tightly locked
Em ở đây với anh
You're here with me
Cho hơi lạnh sáng mùa xuân náo nức
To lessen the cold this bustling spring morning
Thịt da em cho anh sưởi hơi ấm mình con chim khuyên
Your flesh warms me with the wren's breath
Trong lòng bàn tay run rẩy
Inside your trembling hands
Giữa hai cành non
Between two young branches
Nghe nhựa mùa xuân
Feeling spring's resin
Những nụ hồng đang muốn nở
Just now, rosebuds are blooming
Và mật vừa thơm và ong đã tới
And the honey is fragrant, and the bee has come
Chúng ta đi vào bí mật của mùa xuân
We've entered spring's secret
Ngày đầu tiên của em trên biển.
Your first day upon the sea.

nguồn: Sông Hương #23 (Đinh Mão 1987)


Văn Thao: Tôi thấy thương cha tôi thấm thía. Cha tôi chịu nối thiệt thòi lớn nhất của người sáng tạo là phải dừng lại 30 năm không làm được gì. 30 năm câm lặng, trầm uất, cha tôi buồn đến mức không muốn cho các con theo nghiệp làm nghệ thuật, buồn đến mức, có lúc ông muốn kiếm một nghề lao động chân tay để nuôi gia đình.

Quỳnh Thụy My, "Con trai cố nhạc sĩ Văn Cao: Cha tôi là người luôn cô đơn," Báo Phụ Nữ Thành Phố Hồ Chí Minh 17 tháng 11 2001.

7 tháng 11, 2023

trích Nghệ thuật và chế độ (The Arts and The Regime) (1979)

Một loạt văn nghệ sĩ vừa trốn thoát chế độ cộng sản Việt nam ra đi. Đó là Trịnh Công Sơn, Thái Thanh, Phạm Đình Chương, Nguyễn Đức Quang.
 
Các nhạc sĩ và ca sĩ nói trên hiện tạm trú tại Mã-lai, chờ ngày vào Hoa Kỳ.
 
Trong số các văn nghệ sĩ ngày, có người như Trịnh Công Sơn đã từng có thời kỳ hợp tác khá chất chẽ với nhà cầm quyền cộng sản. Rốt cuộc, khi có cơ hội, nghệ thuật vẫn tìm đến một môi trường tự do.

nguồn: Văn học nghệ thuật #12 1979


Đây là mục thông tin ở hải ngoại. Tin về Trịnh Công Sơn sai nhưng cũng phản ứng ước vọng của tạp chí và độc giả - "tìm đến một môi trường tự do."

4 tháng 11, 2023

Mưa một mình (Rain Alone) - Trần Dạ Từ (1991)

Đây là cơn mưa chúng ta từng một ước
Here's the rain that we wished for
Khi ta mong ước, cơn mưa đã không tới
When we wished for it, the rain did not come
Khi cơn mưa tới, đã không còn chúng ta
When the rain came, then there was no longer us
Chỉ còn mưa. Mưa Một Mình
Only rain remained. Rain Alone

Mà mưa mưa mưa mãi.
That rains on and on

nguồn: Thế Kỷ 21 #24 (tháng 4 1991).