6 tháng 9, 2016

phỏng vấn Lê Dinh (1963)

Nguiễn Ngu Í (hỏi): Còn có một nguyện vọng này của đa số anh em, chắc anh cũng chưa xẻ, đó là mong nha Thông-tin sẽ dễ dãi trong việc kiểm duyệt lời các bài hát.

Anh gật đầu.

Lê Dinh (đắp): Nói thì có hơi quá, chớ sánh với các bộ môn văn nghệ khác, ngành Tân nhạc có cảm tưởng mình như là một đứa con nuôi. Chúng tôi chẳng phải không hiểu giai đoạn đặc biệt mà nước nhà phải trải qua, nhưng trong khi bên Cổ nhạc, các bản Vọng cổ lời lẽ yếu mềm, ủy mị, rên than được in, được bán khắp nơi, được trình bày qua làn sóng điện, thì phần Tân nhạc chúng tôi, có lời nào có vẻ tình tứ hay nói lên một nỗi buồn có phần sâu đậm, thì bị kiểm duyệt ngay. Khiến cho nhạc sĩ lần lần mất bản sắc của mình. Bài hát kiểm duyệt rồi sửa đổi lại, thì bản nào cũng na ná như bản nào, như "đục một lo mà ra."  ... Người kiểm duyệt bảo phải xác định vị trí, đề-nghị tác giả sửa hai chữ nào đó lại là phương Nam. Một nhạc sĩ khác phải nói rõ trong bài là miền Nam. Lộ liễu quá. Mà tuyên truyền quá rõ dễ bị người nghe ít ưa, thành ra ảnh hưởng không bao nhiêu. Kết quả không như nha Thông tin muốn. Và nhạc sĩ mất cái hứng sáng tác khá nhiều.

(hỏi): Bây giờ tôi hỏi riêng về anh đây. Bạn trẻ thích nhạc anh, anh có tò mò tìm hiểu vì sao không?

(đắp): ... Ba mươi tuổi, ở giữa đường đời, mà may thay, chúng tôi còn giữ được tâm hồn của lứa tuổi hai mươi. Gần họ, tâm sự với họ, hiểu họ, thì dễ cảm thông. Kĩ thuật sáng tác của chúng tôi không điêu luyện, cầu kì như các bậc đàn anh nổi tiếng, mà giản dị hơn, âm điệu lại dồi dào, khiến nhạc phẩm dễ đờn, dễ hát, dễ nhớ. Nhưng phần lời ca quyết định sự thành công đối với bạn trẻ hơn là nhạc. Lời ca của chúng tôi thường sát với tâm tình họ, bong bẫy hơn lời ca thời trước vì lẽ tôi đã nói với anh ở trên. Thế hệ trẻ hôm nay thích cái gì buồn buồn, dang dở ..

nguồn: "Bách Khoa phỏng vấn giới nhạc sĩ," Bách Khoa 166 (1 tháng 12), tr. 109-110.


Nước Việt Nam Cộng Hòa đã kiểm duyệt ca khúc. Nha Thông Tin bắt tác giả phải giảm bớt sự u sầu của bài ca. Hình như họ cũng quản lý quá chi tiết (phương Nam hay miền Nam). Thời Đệ Nhất Cộng Hòa của Ngô Đình Diệm thì việc kiểm duyệt chặt chẽ hơn.  Lúc bấy giờ nhạc sĩ Thẩm Oánh là một người có trách nhiệm kiểm duyệt bài hát (xem Tạ Khôi, "Kiểm duyệt văn nghệ," VOA (18 tháng 1 2012).

Các tác giả có thêm một vấn đề là nhà nước chủ trương tuyên truyền, nhưng nếu thông điệp tuyên truyền quá rành rành thì bài ca ấy không được khán giả đón nghe. Các tác phẩm được "vượt thời gian" của giai đoạn này phải được sáng tác rất cẩn thận và khéo léo để đáp ứng nhu cầu của nhà nước của của quần chúng.

Ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa thì tất nhiên các tác giả bị kiểm duyệt trần trọng hơn. Sáng tác sai đường lối thì dễ bị phê phán công khai hay bị tẩy chạy.

3 tháng 9, 2016

tiếng dương cầm năm 1932 ở Sài Gòn

Mồng 3 tháng 5 1932 Mlle. Trương Vĩnh Tông đã chơi violon và piano tại Grande Exposition d'Arts Feminins Annamites (Hội chợ Nghệ thuật Phụ nữ An Nam) ở Stade de Sport Saigon (Sân Vận Động Sài Gòn) - nguồn: La Tribune Indochinoise (4 mai 1932, 2)

Nicolas Trương Vĩnh Tông là con út của Petrus Ky / Trương Vĩnh Ký. Trương Vĩnh Tông đã dịch bài "Le voyage de Petrus Truong Vinh Ky au Tonkin en 1876" sang quốc ngữ thành "Chuyến đi Bắc kỳ' năm Ất hợi" Voyage au Tonkin en 1876)." (Bulletin de la Societe des Etudes Indo-Chinoises IV (1929) 1, pp.1-76). Bà vợ của ông biết chơi nhạc cổ điển tây phương.

2 tháng 9, 2016

phỏng vấn Huỳnh Anh (1963)

Huỳnh Anh (đắp): Tôi thấy nhiều bạn lấy đôi điệu trong cổ nhạc miền Bắc, miền Trung, rồi chế biến ra. Nghe lên là ta thấy liền. Còn cổ nhạc miền Nam, thì có thể kể như là chưa được khai thác. Chẳng biết vì nó không hợp với việc này, hay là nó bị bỏ quên...

Nguiễn Ngu Ý (hỏi): Nhưng mà ảnh hưởng cổ nhạc miền Nam đối với dân chúng vẫn khá đậm đà chớ?

(đắp): Dĩ nhiên là đậm đà nhiều. Anh vô chơi những xóm lao động ở Đô thành, hoặc về nhà quê, thì anh thấy rõ. Tôi có thể nó mà không sợ trật bao nhiều, là ảnh hưởng đó đến bảy chục phần trăm chớ chẳng ít. Chắng biết anh có để ý không, chớ tôi thấy những người dân thường, dạy đi dạy lại một bài Tân nhạc dê dễ, họ thường hát sai; nhưng dạy qua một bài Bình bán, hay nói lối Vọng cổ, thì họ hát đúng dấu nhịp nhàng chưa vững. Điều này chứng tỏ nhạc cổ truyền đã ăn sâu vào hồn dân tộc.

(hỏi): Anh gần bạn trẻ nhiều, chắc anh rõ sở thích của họ về Nhạc.

(đắp): Bạn trẻ đây là bạn trẻ Đô thành, anh phải hiểu cho tôi như thế mới được. Cổ nhạc, thì họ không thích mấy, anh còn lạ gì tuổi trẻ hay chuộng những gì mới, lạ.  Tân nhạc, thì họ thích vừa vừa, còn nhạc Âu-Mĩ, thì họ rất thích. Tôi xin nói ró nhạc Âu-Mĩ đây, không phải là loại nhạc cổ điển, mà là loạ nhạc vui nhẹ (musique légère), loại nhạc khiêu vũ.

nguồn: "Bách Khoa phỏng vấn giới nhạc sĩ," Bách Khoa 164 (1 tháng 11 1963), tr 113.

29 tháng 8, 2016

mục lục Chanh Bolero của Phương Thanh (2007)


1) Người đi ngoài phố [tức Người ngoài phố] - Anh Việt Thu - sáng tác 1970 - cấp phép 21 tháng 10 2013

2) Sầu tím thiệp hồng - Hoài Linh [tức Minh Kỳ + Hoài Linh] - sáng tác 1965 - cấp phép 21 tháng 10 2013

3) Nhớ người yêu - Vinh Sử [trên bản nhạc - Hoàng Hoa + Thảo Trang, tức Vinh Sử + Giao Tiên] - sáng tác 1970 - 12 tháng 10 2007

4) Bạc trắng lửa hồng - Thy Linh [tức Trương Hoàng Xuân] - sáng tác 1971 - cấp phép 25 tháng 2 2011 [Cục Nghệ thuật biểu diễn có thông tin nhầm là cho rằng bài ca này là của Khánh Băng]

5) Cây cầu dừa - Hàn Châu - sáng tác 1998?

6) Giọt lệ đài trang - Hàn Châu [tác giả là Châu Kỳ không phải là Hàn Châu] - sáng tác 1970 - 8 tháng 1 2010

7) Lan và Ðiệp [tức Truyện tình Lan và Điệp, Ca khúc 1] - Mạc Phong Linh + Mai Thiết Lĩnh [tức Lê Minh Bằng] - 1965 - 21 tháng 10 2013

8) Mất nhau rồi - Ngân Trang [tức Giao Tiên] - 1971 - cấp phép 12 tháng 10 2007

9) Liên khúc Ðêm cưới / Giận hờn - Ngọc Sơn - 1996 / 1992

Có nhiều điều chưa ổn về mục lục đĩa này.  Hai bài ca bị gọi bằng tên sai - "Người ngoài phố" và "Truyện tình Lan và Điệp."  Bài "Sầu tím thiệp hồng" là của hai nhạc sĩ Minh Kỳ và Hoài Linh; "Giọt lệ đài trang" là của Châu Kỳ; tác giả của "Mất nhau rồi" là Ngân Trang, một tên bút của Giao (Dương Tiến Thụ và Diễm Nhi là ai vậy?).  Nhà sản xuất và công ty đĩa đàng hoàng phải đăng thông tin đúng mới quý trọng các tác giả và tác phẩm.

Điều lạ nhất là điều kiện kiểm duyệt của album này.  Nó có dấu của Cục Nghệ Thuật Biểu Diễn, như vậy có nghĩa là được Cục kiểm tra phải không?  Trên đĩa có hai tác phẩm sáng tác sau 1975 như vậy không thuộc vào "Danh mục các bài hát trước năm 1975 được phép phổ biến."  Album Chanh Bolero mới được xuất hiện năm 2007, nhưng 3 trong 9 bài của album này mới được cấp phép vào ngày 21 tháng 10 2016, còn một bài nữa được cấp phép ngày 8 tháng 1 2010.  Tôi nghĩ rằng hai bài ca còn lại được cấp phép đúng lúc album này được xuất bản là 12 tháng 10 2007.  Việc phải "cấp phép" hát các bài tình ca thật lố bịch rồi. Nhưng bỏ qua quy luật này cũng lố lăng.

Nhiều ngộ nhận xây ra vì cả một trào lưu âm nhạc Việt bị chôn vùi hơn 15 năm.  Tư liệu bị tịch thu và đốt. Thông tin đúng đâu phải là dễ tìm lắm. Nói vậy không có nghĩa là không thể được tìm.

25 tháng 8, 2016

Sao chẳng nói (Why Won't You Talk) - Tuấn Khanh (1962)

boléro

Sao chẳng nói khi ta ngồi gần nhau.
Why won't you talk when we're sit close together?
Sao chẳng nói nghe câu chuyện ngày sau.
Why don't you talk and listen about days to come?
Lúc phố vắng khuya không người thức giấc đêm canh dài
Deserted midnight streets, not a single person, wide awake the long night watch
Nằm nghe mưa rơi tí tách rớt bên song
Lying down, hearing the rain drop by drop at the windowsill

Sao chẳng nói đôi câu đẹp lòng ai.
Why won't you say a few nice words to someone
Sao chẳng nói cô đơn khi chiều phai.
Why won't you speak of loneliness as the afternoon fades
Nói hết nỗi vui hay buồn lúc chiến đấu nơi sa trường và tình thương thắm thiết dâng về phố phường.
Speak of happiness or sorrow as you fight on the battlefield and your ardent love offered back to the neighborhood.

Đêm nay quê nhà biết rằng em mong chờ nhưng nợ nước lòng không ơ thờ dù rằng lìa xa em lòng bao lưu luyến.
Tonight the homeland knows that I wait expectantly, but your debt to country is not lukewarm, though we're separated my heart has so much affection

Anh ơi, đêm về vắng lạnh bên đèn vàng
My love, night returns, I'm cold and deserted next to the golden lamplight
Em ngồi viết gửi về anh đôi hàng chuyện tình se kết đang chờ chiến công anh
I sit and write sending you few sentences of love to become closer while awaiting your feats in battle

Sao chẳng nói êm như một bài thơ
Why won't you speak softly like a poem
Sao chẳng nói nghe câu chuyện mộng mơ
Why won't you speak and listen to dreamy conversation
Gió cuốn lá khô bên thềm nhớ mái tóc, đôi vai mềm kỷ niệm xưa thắm thiết trong chiều êm đềm
The wind blows around dry leaves in the yard longing for someone's tresses, soft shoulders, fervent memories of long ago of a calm evening

nguồn: Tuấn Khanh, "Sao Chẳng Nói," (Saigon: Tinh Hoa Miền Nam, 1962).


Tôi mới tìm đến cụm chữ "hậu chấn tâm lý" trên mạng.  Lắm lần người lính chiến không thể kể đến những sự việc chết chốc ở chiến trường.  Người tình, người vợ trẻ của một người bị vậy cũng gặp khó khăn - cảm thấy như sẽ không còn được khăng khít với người mình thương.

Trong bài ca "Sao chẳng nói" người "em" này cũng sống trong cô đơn vì người tình, người chồng của mình phải đi ở chiến trường xa (đêm về vắng lạnh bên đèn vàng).  Nhưng lúc về, "anh" không tâm sự với "em," kể cả "chẳng nói đôi câu đẹp lòng ai."

Không phải tại anh, không phải tại em - như thế phải của chiến tranh.  Nhưng đừng trách chiến tranh. - hai người nhận "nợ nước" và hai "lòng không ơ thờ."  Và "quê nhà biết rằng em mong chờ" - Nói thế là rất kiềm chế.  Các ý này được hát khi giọng D thứ đổi thành giọng D trưởng.

Không biết sự có mặt của bài ca này đã giúp làm thúc đẩy đôi tình nhân, cặp vợ chồng nào được tìm cách để vượt qua tâm trạng này?  Cũng có thể đoán rằng bài ca làm một niềm an ủi cũng những ai bị lâm vào tâm trạng này nữa.
Hoàng Oanh ca kéo dài chữ "nói" nghe cũng năn nỉ.

23 tháng 8, 2016

phỏng vấn Trúc Phương năm 1963


Nguyễn Ngu Í (hỏi) - Bạn trẻ thích các bài hát của anh, chắc anh cũng hiểu vì sao chớ?

Trúc Phương (đắp) - Tôi có hỏi một số bạn trẻ thích nhạc tôi, nên tôi biết điều đó.  Tôi sáng tác, lấy nguồn cảm hứng ở chính những vui buồn, lo, nghĩ của mình, hoặc bị cảm xúc bởi những nỗi niềm của người đồng lứa.  Tôi cố sao chân thành trong khi sáng tác, và nét nhạc của tôi lúc nào cũng phảng phất hồn cổ nhạc.  Và tôi nghĩ rằng ta chỉ nên mượn kĩ thuật của Tây phương thôi, còn tâm tình phải là của người Việt ở thế hệ mình, mà muốn diễn tả cho đúng, muốn cảm được người nghe -- người Việt -- thì không thể bỏ qua cái vốn âm hưởng mà người Việt mình đã nghe từ mấy ngàn năm, ăn sâu vào tiềm thức...  Cho nên, Tân nhạc được sống mạnh thời hậu chiến, là từ khi các nhạc sĩ đã đem những giọng hò, giọng ngâm quen thuộc của người dân mình vào sáng tác của họ một cách phải chăng là khéo léo.

Question - Our young friends like your songs, probably you understand why?

Answer - I've asked a few young friends who like my music, so I know that.  I compose, take inspiration exactly in my own joys and sadness, worries, thoughts, or I'm moved by the feelings of people of my age.  I try to find a way to be sincere when I compose, and my music always bears a small resemblance to traditional music.  And I think we should only borrow the technique of the West, but the sentiments must be of the Vietnamese of our generation, and if one is to correctly depict this and wants to be able to move listeners -- Vietnamese people -- then one can't omit the musical legacy that we Vietnamese have heard for thousands of years, that is deeply rooted in our subconscious...  Therefore, Modern music is able to thrive in the post-war period, and it's been since composers have brought the familiar sounds of work-songs, recitations of our folk into their compositions in a manner that it must be said is skillful.


nguồn: "Bách-Khoa phỏng vấn giới nhạc sĩ - XIII: Trúc Phương," Bách Khoa 163 (15 tháng 10 1963), tr. 103.


Lắm trí thức Việt Nam lo đến chuyện "dân tộc tính" trong nhạc Việt.  Hình như chỉ có nhạc sĩ Trúc Phương giải thích một cách trực tiếp và đơn giản.  Mượn kỹ thuật Tây phương, lấy vốn âm nhạc quen thuộc, viết lời phản ánh cảm tình của người xung quanh mình.

Cảm nghĩ của Trúc Phương không cách xa ý của Nguyễn Văn Thinh phát biểu về "quốc nhạc" là "nghệ thuật cấu tạo âm thanh để diễn tả tình cảm, chí hướng của dân tộc."  Song hình như ông Thinh tin rằng "tình cảm, chí hướng" đó luôn luôn sẵn có.  Trúc Phương thì biết rằng mình phải đi "thực tế" - nghĩa là tìm hiểu đến tình cảnh của con người xung quanh mình, tức những người ("bạn trẻ") sẽ đón nghe các tác phẩm của mình.  Trúc Phương cũng tâm sự:
Từ chỗ được tự do sáng tác đến chỗ sáng tác theo một vài đường lối, người nghệ sĩ nào lúc đầu lại chẳng thấy khó chịu, lúng túng vì cảm thấy mình bị ràng buộc.  Nhưng mà trong giai đoạn đặc biệt, thì chúng tôi phải chịu và lại lâu rồi chắc cũng sẽ quen đi, nhưng lúc đầu thì thật là lúng túng bực bội (tr. 104).
Nếu toàn bộ tác phẩm của Trúc Phương có một thiếu sót, thiếu sót đó thuộc vào thời cuộc.  Cái "vui buồn, lo nghĩ" của thế hệ ông dựa vào một "giai đoạn đặc biệt" nghĩa là dựa vào một cuộc nội chiến kéo 30 năm.

Toàn thể các nhạc phẩm của Trúc Phương bị cấm phổ biên ở Việt Nam 17 năm từ 1975 đến 1992.  Đến bây giờ chưa đến một nửa các tác phẩm Trúc Phương được cấp phép.  Cuối đời người nhạc sĩ này sống trong cảnh nghèo khó.  Nhưng các ca khúc của ông có một sức sống rất đáng lưu ý.

22 tháng 8, 2016

Éditions Thẩm-Oánh (1943)


nguồn: Thẩm Oánh, Nhạc lòng: 4 bản đàn kỷ niệm Hội chợ Hanoi 1941 (Hà Nội: Tác giả, 1941).

Năm 1963 nhạc sĩ Thẩm Oánh viết: "Di cư vào Nam, con người nhạc sĩ của Hà Nội hôm qua đã quá ngỡ ngàng trước luồng sóng nhạc cuồng nhiệt, vang dội lên tiết điệu hăng nồng của loại khiêu vũ giật gân."  Cái thực tế là nhạc cải cách của hai mươi mấy năm trước cũng tựa vào nhạc khiêu vũ.

Theo phân tích của Hoàng Thi Thơ thì nhịp valse và marche đều phụ thuộc vào loại "khiêu vũ cổ điển."  Tango và slow-fox là hai kiểu "khiêu vũ tân thời."  Hiện nay nhạc tango được coi như là nhạc cổ điển hay bán cổ điển, nhưng khi mới xuất hiện tango là nhịp khiêu vũ của nhà thổ.  Foxtrot xuất pháp trong cộng đồng Mỹ da đen là nhịp của nhạc ragtime.  Hai nhịp ấy rất được thịnh hành trong những năm 1920 và 1930.

21 tháng 8, 2016

trích Tô Vũ "Nhạc vàng là gì"

Nếu như trong cuộc sống bình thường của con người, nhạc vàng đã có tác động hại đáng kể vì nó gieo rắc bi quan và làm tiêu mòn ý chí, thì đặc biệt trong hoàn cản hoàn cảnh phấn đấu khôi phục lại đất nước sau chiến tranh, xây dựng cuộc sống tươi vui trong chế độ mới, một hoàn cảnh đòi hỏi cao độ sự nhiệt tình và lòng hăng say, sự nỗ lực và ý chí chiến đấu, nhất là trong thế hệ thanh niên, thì nhạc vàng, mà đối tượng chủ yếu của nó lại là thanh niên, lại càng có tác hại lớn vì hiệu quả tiêu cực của nó.

Nhưng tác hại của nhạc vàng không phải chỉ ở chính cái hiệu quả tiêu cực của nó, mà e là còn ở phương thức tác động của nó.  Nó không thuộc loại những bài hát phản động chính trị lộ liễu như những bài hát chống Cộng để làm người ta cảnh giác.  Nó không thuộc loại nhạc bệnh họan điên loạn như những ban nhạc giật gân, kích động hoặc dâm tục đồi trụy để người ta phản ứng tức thời.  Nó đi len lén vào tâm hồn như những bóng đêm ru ngủ cảnh giác vì cái bề ngoài có vẻ hiền lành, ngọt lịm của nó.  Nó không kêu gào, đập phá, mà lại gậm nhấm, ăn mòn.  Để nói đên một giọng đàn ảo não, ngày xưa có nhà thơ đã viết:
"Ôi thuốc độc êm đềm, giọng đàn kiều mỵ"
Nhạc vàng chính là thứ thuốc độc êm đềm đó.

nguồn: Tô Vũ, "Nhạc vàng là gì," trong Sức sống của Nền Âm nhạc Truyền thống Việt nam (Hà nội: Nhà xuất bản Âm nhạc, 1996), tr. 305-312 [in lần đầu trên trang tạp chí Văn hóa Nghệ thuật tháng 5 năm 1976]
 .

Năm 1975 nhạc miền Nam Việt Nam Cộng Hòa đã thành thắng lợi phẩm mà hành quân ra Bắc đi cùng các bộ đội Cụ Hồ.  Tô Vũ viết bài này để báo cho dân và lãnh đạo miền Bắc về sự nguy hại của nền văn hóa này.  Nhưng cũng phải nói rằng Tô Vũ mà trong những năm 1950 đã từng bị phê phán vì viết những tác phẩm với "cái bề ngoại có vẻ hiền lành, ngọt lịm."

Quan niệm nhạc vàng vốn là quan niệm của chế độ Mao Trạch Đông, nhưng quan niệm này cũng rất phù hợp với thế giới quan nhà nho.  Người nghe nhạc buồn sẽ thành người vô lực.  Nhạc bóng đêm.

Đây chỉ là lời ngoa dụ.  Nếu nhạc màu vàng này thực sự là "thuốc độc êm đềm" thì người Việt ở bốn phương năm châu đã bị tuyệt chủng.  Quảng thời gian mà nhạc vàng bị cấm thì kinh tế của Việt Nam suy sụp.  Còn nữa dân số người Việt trong nước hiện nay đông hơn bao giờ.  Phải coi nhạc vàng như một liếu thuộc bổ.